ĐÔI ĐIỀU SUY TƯ…

Lê Bích Sơn

 

Sau loạt bài viết của Thầy Thích Giải Hiền đăng tải trên Trang nhà Quảng Đức về những khó khăn đối với Tăng ni Việt Nam sang du học tại Trung Quốc, cũng như những hiện trạng “đối xử” của một số “giai cấp” ở Trung Quốc đối với “thành phần” Phật giáo; một số huynh đệ hiện lưu học tại Đại học Delhi đã đến gặp tác giả bài viết này đặt câu hỏi: “Liệu rằng thầy Giải Hiền có quá “phóng đại” vấn đề?”. Thay vì trả lời trực tiếp câu hỏi, xin kể lại một vài mẫu chuyện có thật sau đây mà chính tác giả là “người trong cuộc” gặp phải khi thực hiện chuyến hành hương đến Trung Quốc trong tháng 03 năm 2003 này.

 

TRƯỚC NGÀY KHỞI HÀNH

Trước khi quyết định tiến hành bất kỳ công việc gì, vấn đề tìm hiểu và tổng hợp thông tin là điều cực kỳ quan trọng, nếu không muốn nói rằng “không thể thiếu”. Sau khi chọn đề tài nghiên cứu có liên quan đến “Phật giáo Trung Hoa”, tác giả bài viết này quyết định đến Trung Quốc thực hiện công việc “khảo sát thực tế”, cũng như sưu tập tài liệu cho Luận văn của mình với một lượng thông tin ít ỏi về Trung Quốc, nhưng cũng không kém phần quan trọng.

Vào khoảng tháng 7 năm 1999, trong một lần tiếp xúc với thầy Thích Minh Nhẫn – Du học Tăng Việt Nam tại Trung Quốc – tại  Toà soạn Báo Giác Ngộ, thầy Minh Nhẫn đã kể lại không ít những khó khăn gặp phải trong thời gian Thầy lưu học tại Trung Quốc. Câu chuyện rất dài, chỉ xin ghi lại nơi đây một số vấn đề vắn tắt xảy ra với hầu hết Tăng ni tại Trung Quốc, do thầy Minh Nhẫn kể lại như sau: Việc sử dụng máy tính cá nhân và điện thoại luôn bị kiểm soát chặc chẽ bỡi những cảnh sát địa phương, vấn đề sử dụng internet cũng bị kiểm tra nghiêm ngặt, không có bất kỳ bóng dáng một Tăng ni Trung Quốc nào ở các Đại học công lập & dân lập tại Trung Quốc (Tăng ni chỉ được phép đến các Phật học viện), việc cư trú của Du học Tăng Việt Nam luôn bị kiểm tra và sách nhiễu.v.v. Tháng 01 năm 2003, bên cạnh những thông tin của thầy Minh Nhẫn, chúng tôi tìm đến người bạn Trung Quốc cùng lớp tên Ch. L. (xin dấu tên, sang Ấn Độ tu nghiệp) – hiện là Nghiên cứu sinh Tiến sĩ chuyên ngành Sanskrit thuộc Trường Đại học Bắc Kinh –  để tìm hiểu về tình hình sinh hoạt ở Trung Quốc và những thông tin chuẩn bị cho chuyến đi. Quan ngại trong việc trả lời các câu hỏi về thực trạng tôn giáo tại đất nước mình, Ch. L. chỉ “bật mí” đôi điều như sau: “Ngày nay, hầu hết các tự viện ở Trung Quốc đều nằm dưới sự quản lý của nhà nước Trung Quốc, mọi sinh hoạt tôn giáo đều do nhà nước quyết định. Tất cả các tín đồ Phật giáo khi đến chùa đều phải mua vé vào cổng. Tăng ni không được phép học tập, nghiên cứu tại các Trường Đại học công lập, đa số Tăng ni ở Trung Quốc sống đời sống “ẩn cư”, rất ít khi gặp Tăng ni trên các đường phố hoặc nơi công cộng .v.v.”. Xa hơn nữa, Ch. L. khuyên chúng tôi nên “cải trang” mới có thể dễ dàng đi lại ở Trung Quốc, và người bạn Trung Quốc này kết thúc câu chuyện với lời nhắn nhủ:  “Những thông tin này có thể sẽ làm Thầy cảm thấy sốc (shock), nhưng đó là sự thật. Hãy chuẩn bị tâm lý và nhớ mang theo “Tỳ kheo chứng” (Chứng nhận Tỳ kheo) để khỏi phải bị rắc rối”.

Chúng tôi tiến hành thủ tục xin visa nhập cảnh, và lên đường sang Trung Quốc với lòng nặng trĩu những lo âu.

 

“NHỮNG ĐIỀU NGHE THẤY…”

Trên các chuyến tàu liên vận từ Việt Nam sang Trung Quốc, thủ tục nhập cảnh và kiểm dịch thường được cảnh sát Trung Quốc tiến hành ngay trên tàu. Sau khi chúng tôi xuất trình hộ chiếu và các chứng nhận sức khoẻ cần thiết, anh Hải quan Trung Quốc văn ra hàng loạt câu hỏi và mệnh lệnh: “Mở hành lý ra để kiểm tra”, “Có mang theo dụng cụ tôn giáo nào không?”, “Những thứ này không được mang vào Trung Quốc” (các chai Yomost, bịch hạt dưa), và v.v.

Cùng chung chuyến tàu, chúng tôi gặp hai Sư cô Việt Nam đang học tập tại thành phố Phúc Kiến, một trong hai sư cô “nhắc nhở”: “Thầy ăn mặc như thế này rất khó đi lại ở Trung Quốc, vì ở đây họ không thích Tu sĩ ra đường”. Những lời khuyên dành cho chúng tôi trong thời gian ở Trung Quốc thường là “thay đổi hình thức”, vì ở Trung Quốc những ai mang “nhãn hiệu” thuộc “thành phần tu sĩ Phật giáo” đều gặp không ít những “trở ngại không cần thiết”. Theo lời hướng dẫn của những Tăng ni và bạn hữu lưu học lâu năm tại Trung Quốc, chúng tôi quyết định cởi áo tràng đi đường, chỉ mặc bộ vạt khách màu nâu, không quên khoát thêm chiếc áo lạnh bên ngoài và “mũ len thời trang” trên đầu. Kết quả là chuyện đi lại và dò hỏi thông tin có dễ dàng hơn đôi chút, những ánh mắt lạnh lùng cũng ít “tập trung” vào chúng tôi hơn, chúng tôi có thể “tự do” đi vào những nhà sách cũng như thư viện các Trường Đại học để lấy thông tin và tìm tài liệu, tránh được những ánh mắt “xoi mói” khi mua một chai nước uống vì khát.v.v.

Gần một tuần ở Bắc Kinh, duy nhất một lần chúng tôi chứng kiến một vị Tăng Trung Quốc xuất hiện trên xe buýt công cộng, đồng thời bắt được hình ảnh một phụ nữ trên xe “ném cái nhìn” không mấy thiện cảm về phía Tăng nhân nọ. Hầu hết những “vị Tăng” (?!) khác chúng tôi gặp ở Bắc Kinh đều là những người đã được “ai đó” “đặt vào” các khu tham quan, du lịch. Chỉ nhìn thoáng qua hình thức các “vị” này, chúng ta cũng có thể đoán ra rằng họ không phải là những người xuất gia “chính quy”. Ví dụ, khi chúng tôi đến tham quan khu “Lão Bắc Kinh”, một số “vị Tăng” (?!) đang ngồi chễnh chệ uống “trà” (?!) trong tay là những lá bài đen đỏ, phía dưới chiếc áo tràng màu vàng không che được chiếc quần Jeans và đôi giày Adidas, tóc không cạo mà cắt theo kiểu 3 phân, bức tường sau họ treo một tấm vẽ “bản đồ Bát quái” khá lớn.v.v. Sau khi kiểm tra vé chúng tôi, một trong các “vị” nọ hỏi: “Có muốn coi quẻ cho năm 2003 không?”, tất nhiên câu trả lời một trăm phần trăm là: “Không”. Trong đầu chúng tôi chợt loé lên hai chữ “Quốc doanh” sau khi bước qua dãy bàn kiểm tra nọ.

Rời Bắc Kinh chúng tôi đến thành phố Thượng Hải. Với túi tiền sinh viên, chúng tôi tìm một nhà trọ (chui) giá thấp nhất theo lời giới thiệu của những người chào hàng, khi vừa đến ga Thượng Hải. Tất nhiên phòng trọ 90 Tệ/ 1 ngày (cho 3 người) nọ chỉ đủ cho chúng tôi để hành lý với điều kiện vệ sinh rất tệ. Sau khi tìm được chỗ trọ, điểm đầu tiên chúng tôi đến tham quan là Long Hoa Cổ Tự, mục đích chính của chúng tôi là đến thăm vị Tăng người Hoa mà chúng tôi có dịp gặp trên sông Hằng - Ấn Độ, đang lưu trú ở đó. Như mọi ngôi chùa khác ở Trung Quốc, chúng tôi phải trả mỗi vé vào cổng là 8 Nhân dân tệ (khoảng 1$US). Cuối cùng, chúng tôi cũng tìm được người bạn chúng tôi tên Thích T. H. (xin dấu tên), sau khi vượt qua 3 lớp cửa với những lời tra hỏi của những nhân viên bảo vệ. Câu chuyện giữa chúng tôi kéo dài khoảng 40 phút không ngoài việc trình bày về mục đích đến Trung Quốc của mình. Thầy T. H. đồng ý đưa chúng tôi đến các nhà sách, thư viện Phật học viện để thu thập tài liệu, và hứa sẽ hướng dẫn chúng tôi đến Cửu Hoa Sơn; Tất nhiên là Thầy không quên báo cho chúng tôi biết là Thầy phải thông qua “Người quản lý” và mọi quyết định đều tuỳ thuộc ở đó. Theo chân thầy T. H., chúng tôi đến một tấm bảng phân công việc hàng ngày trong chùa, theo Thầy thì công việc này được Ban quản lý “lên bảng” hàng ngày. Sau khi xem qua lịch phân công, Thầy dắt chúng tôi đến một căn phòng rộng và bảo đứng đợi ở đó. Trong suy nghĩ của chúng tôi “Người quản lý” không ai khác các “Thầy Tri sự” như các ngôi chùa lớn ở Việt Nam, đằng này “Người quản lý” mà chúng tôi có dịp “diện kiến” là một người đàn ông thế tục với mái tóc chải cao trong bộ veston màu đen và đôi giày Tây bóng loáng. Sau khi làm xong công việc “đối chứng”, ông ta bảo thầy T. H. phải làm một tờ khai báo với chi tiết rõ ràng nộp cho văn phòng ban quản lý. Tất nhiên, người tiếp nhận kia cũng không phải là người xuất gia. (?)

Chưa bao giờ chúng tôi chứng kiến một lối buôn bán nào lạ lùng như trong một nhà sách ở Thượng Hải. Với tôi, mua bán chỉ đơn thuần là con đường hai chiều giữa mua và bán, là “thực hiện nghĩa vụ song phương” giữa người bán và khách hàng, nhưng ở Trung Quốc điều đó dường như bị thay đổi khi khách hàng được “xếp hạng” thuộc “thành phần tu sĩ Phật giáo”. Sau đây là mẫu đối thoại giữa người bán hàng và thầy T. H., khi Thầy hỏi mua một đồng hồ báo thức được gắn vào một tượng Phật nhỏ.

Thầy T. H.: - Thưa cô! Cái này làm bằng chất liệu gì vậy?

Người bán hàng: - Mua không mua thì thôi, đừng hỏi dài dòng.

Thầy T. H.: - Ở đây có bán bộ VCD “Trung Quốc Phật Giáo Tứ Đại Danh Sơn” không, Cô?

Người bán hàng: - Muốn mua gì thì đến đó mà tìm. (tay chỉ về quầy VCD với ánh mắt “đỏ lửa”)

Chúng tôi kéo tay thầy T. H. bước ra khỏi nhà sách, chiếc loa điện tử được gắn trên cửa kiếng không quên “lặp đi lặp lại” câu “Chúc quý khách vui vẻ! Hẹn gặp lại”, giọng “Tây Thi Đậu Phụ”[4] của người bán hàng vẫn văng vẳng phía sau. Dường như ở Trung Quốc, hễ ai gắn “nhãn hiệu” “thành phần Phật giáo” đều gặp phải khá nhiều rắc rối. Chuyện giản đơn như thầy T. H. ghé nhà trọ nơi chúng tôi đang cư trú, cũng bị hạch hỏi về các giấy tờ “chứng minh thân phận”, và dùng mọi lời lẽ thậm tệ nhằm mục đích cản trở việc thầy T. H. vào bên trong (mặc dù chúng tôi hết mực năn nỉ và hứa sẽ chịu mọi trách nhiệm). Lẽ nào ở Trung Quốc việc dùng những lời lẽ thô tục, thậm tệ để “tặng” cho các nhà sư Phật giáo là hành vi hợp pháp, bình thường??? Ngay cả, việc chúng tôi chụp ảnh để minh hoạ cho luận văn cũng bị một “nhà sư” ở Di-Lặc-Điện tại Cửu Hoa Sơn giật và đòi tịch thu máy ảnh, chỉ vì lý do “Ông là người xuất gia chụp ảnh để làm gì?” (lời vị sư “dõm” nọ), trong khi những du khách khác được “mời gọi” và tự do thực hiện “quyền căn bản” này.      

Nếu ai đó đến Trung Quốc để tham quan, du lịch hoặc tiêu khiển thỉ chẳng có gì để nói. Vì thường thì các “Qui định” mà du khách ngoại quốc phải tuân theo là: Du khách buộc phải ở những nhà nghỉ, khách sạn hạng có một vài “Sao” trở lên, vì những nơi này đã được người ta “phủ lên bức màn sang trọng”, mặt trái của xã hội Trung Quốc dường như người ta “không thích” du khách tiếp xúc. Du khách đến Trung Quốc nếu chỉ là để tham quan thì đây quả là một quốc gia với những thành phố hoa lệ, những công trình và hệ thống giao thông hiện đại, những toà nhà cao tầng mọc lên như nấm tại các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, nhiều ngôi chùa khá quy mô được “đánh bóng” bỡi chính phủ .v.v. khiến nhiều du khách đến từ những quốc gia “nghèo” phải choáng ngợp. Trò chơi “đánh lừa thị giác” xem ra cũng khá hữu hiệu! Nhưng mặt trái luôn là khía cạnh quan trọng của mọi vấn đề. Nếu có dịp đến Thượng Hải, hãy đến tham quan Long Hoa Cổ Tự, đây là một trong hai ngôi chùa nổi tiếng ở Thượng Hải (sau chùa Ngọc Phật). Sau khi mua vé vào cổng, du khách sẽ đến được khu vực (chỉ) dành cho khách tham quan, chúng ta có cảm giác nơi đây vẫn giữ được nét trang nghiêm, người đến tham quan, cầu nguyện chen chúc với khói hương không dứt.v.v. Bộ mặt bên ngoài này tạo cho chúng ta có “ảo giác” rằng: nơi đây quả là một trong những “Đệ Nhất Tòng Lâm”. Tuy nhiên, đằng sau hai lớp cửa được canh gác là khu pháp xá, nơi chư Tăng đang lưu trú thì hoàn toàn ngược lại: mỗi tầng đều được một người bảo vệ “trông nom”, những nhà vệ sinh tập thể dành cho chư Tăng với tình trạng vệ sinh vô cùng kém, tất cả các nhà tắm tập thể không có then cài dành cho Tăng chúng có thể bị kiểm tra bỡi các nhân viên bảo vệ bất kỳ lúc nào, ngay cả phòng ở của mỗi vị cũng do Ban quản lý cất giữ một chìa khoá, họ có thể kiểm tra và tịch thu bất kỳ đồ vật gì của chúng Tăng khi cần, v.v. Chỉ xin lược ghi đôi nét, vì tác giả không tiện miêu tả chi tiết trên trang viết này… 

  Chúng tôi rời Trung Quốc sau khi thu thập được khá nhiều tài liệu cần thiết cho đề tài nghiên cứu, nhưng với chúng tôi điều quan trọng hơn cả những tài liệu đó là rút ra được lời kết luận cho chính mình sau chuyến “khảo sát” này. Vì những bài học thực tế luôn làm cho mọi đề tài trở nên “nóng bỏng”. Lời kết luận mang màu sắc không mấy tươi sáng sau đây có thể sẽ làm không ít độc giả tỏ ra nghi ngờ, nhưng đó là sự thật: Dường như đời sống của hầu hết Tăng ni tại Trung Quốc bị “phong toả" về nhiều phương diện.

 

SUY GẪM…

Đâu là nguyên do tạo nên bức tranh mang màu sắc ảm đạm của Phật giáo Trung Quốc hiện tại? Câu hỏi này dường như thật khó trả lời trong cái nhìn toàn diện. Tuy nhiên, với những tài liệu, thông tin có được, tác giả bài viết này mạo muội nêu lên một vài quan điểm cá nhân như sau: Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy tàn của Phật Giáo tại Trung Quốc là các cuộc “cách mạng văn hoá” do các nhà lãnh đạo Trung Quốc cầm đầu. Nhiều “trò chơi chính trị” được các nhà cầm quyền sử dụng triệt để, công cuộc tuyên truyền “Chủ Nghĩa Vô Thần” được truyền bá bằng những “bàn tay sắt” (Iron-hands), chính sách “nhồi sọ” bằng chiêu bài “tôn giáo… ru ngủ quần chúng,… là thuốc phiện…” được phổ biến một cách rộng rãi và bắt buộc tại các học đường, các phương tiện truyền thông đại chúng thi nhau “tung ra” hàng loạt “sản phẩm độc hại” nhằm vào công chúng.v.v. Cơn lốc kinh tế thị trường đã làm người ta nhanh chóng quên đi những giá trị truyền thống, trong đó việc quay lưng với Phật giáo là một điển hình…

Phần này, chúng tôi xin chỉ đề cập đến chính sách “tiêu diệt” Phật giáo qua phim ảnh.

Có thể nói, nhằm mục đích thu lợi các nhà sản xuất phim ảnh đã khai thác chủ đề Phật giáo một cách vô tội vạ. Kéo theo trào lưu “tiểu thuyết Kim Dung” là hàng loạt những sản phẩm nhảm nhí ra đời và được đưa lên màn ảnh. Tuy nhiên, những sản phẩm nhảm nhí và “nghèo về chất lượng” kia lại được không ít quần chúng thích thú và tự nguyện làm “tín đồ” một cách vô ý thức. Điều này diễn ra không những ở tầng lớp bình dân mà còn có cả những người “khoa cử” cũng tán thán hết lời. Nếu như, lối mòn trong phim ảnh phương Tây là “truyền bá” bạo lực, kích động với các pha bắn súng, đua xe, hay khêu gợi nhục dục.v.v. thì “chủ nghĩa phim Tàu” lại muốn làm nổi bậc “nét lãng mạn thời Trung cổ”, võ thuật phương Đông, tán dương “chủ nghĩa Trung Hoa Đệ Nhất”.v.v. qua các thước phim với những “trò khỉ” (các bài quyền nhảm nhí), chuyện cung cấm, những tình yêu “lảng xẹt” và các “trò cười rẻ tiền”.

Một trong những chủ đề mà các nhà làm phim thường khai thác là “Thiếu Lâm Tự”. Hình ảnh các nhà sư xuất hiện trong phim Tàu chỉ là những anh chàng ngớ ngẩn, lý thuyết “cứu nhân độ thế” của họ chỉ là những trận “choảng” nhau, “Giang-hồ” là nơi các nhà sư phim Tàu thực hành “Bồ Tát Hạnh”, tiêu chuẩn để một nhà sư trở thành “Phương Trượng” hoặc “Trụ Trì” chỉ cần “võ thuật xuất chúng” chứ không đòi hỏi phải uyên thâm về phật học - giới đức trang nghiêm, các nhà sư phim Tàu xuất hiện trước “giang hồ” trong nét mặt “hầm hầm”với bộ Cà-Sa khoát trên người nhìn rất “lôi thôi”, việc nhà sư và gái giang hồ yêu nhau sau một vài lần “thượng cẳng chân hạ cẳng tay” rất phổ biến .v.v. và ngôn ngữ sử dụng trong phim hoàn toàn sáo rỗng, các thành ngữ “Tứ Đại Giai Không”, “Phật Môn Từ Bi”, .v.v. được lặp đi lặp lại một cách “thô bạo”. Tất nhiên, không phải là “tín đồ thuần thành” của phim Tàu nên chúng tôi chỉ tổng hợp một vài “nét hùng tráng” của các nhà sư thuộc trường phái Thiếu Lâm trong vô số phim ảnh Trung Quốc trên trang viết này. Việc “đập vào mắt” công chúng những cuốn phim độc hại ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần, khiến không ít người có cái nhìn không mấy thiện cảm, hoặc nhìn nhận Phật giáo chẳng có ý nghĩa tích cực nào cho nhân loại. Người ta chỉ tôn sùng các nhà sư có “nội công thâm hậu” về việc “choảng” nhau, các nhà sư có thể bay trên không hoặc đi trên nước, các nhà sư “nhập thế” với tôn chỉ “trà đình tửu điếm vô phi thanh tịnh đạo tràng”, hoặc hình ảnh các nhà sư được tô bóng bỡi kỹ xảo điện ảnh.v.v., việc nghiêm trì giới luật, đời sống phạm hạnh, cứu nhân độ thế của các bậc tăng sĩ chân chính trong Phật giáo hoàn toàn không có “chỗ đứng” trong phim Tàu.

Ngày nay, chẳng những chỉ ở Trung Quốc mà một số tự viện tại Việt Nam cũng bị ảnh hưởng bỡi “chủ nghĩa phim Tàu”. Việc thờ cúng hình tượng bốn thầy trò Đường Tăng trong bộ phim “Tây Du Ký” tại một số tự viện là một điều nhức nhối. Trong ba tạng kinh điển nhà Phật không có Tề Thiên Đại Thánh, Trư Bát Giới và Sa Tăng cũng không thấy, Đường Tăng Trần Huyền Trang ngoài đời và trong văn học Phật giáo hoàn toàn khác xa với “ông Tam Tạng” nhút nhát, rụt rè, hay sợ sệt lo lắng và trăm sự đều ỷ lại vào người dẫn đường (Tôn Ngộ Không) trong bộ “Tây Du Ký”. Vậy mà, bốn thầy trò Đường Tăng trong “Ty Du Ký”, sản phẩm hư cấu, tưởng tượng của Ngô Thừa Ân mang tính văn học tiểu thuyết lại được không ít người lầm tưởng là những “nhân vật lịch sử” và được “đưa lên bàn thờ”. 

Với sự phát triển kinh tế ngày một gia tăng, các chương trình truyền hình ngày càng trở nên phong phú với tầng suất phát sóng cao hơn, thu nhập người dân dần ổn định, việc xem phim trở thành lối giải trí phổ thông trong giới bình dân. Giải trí bằng phim ảnh lành mạnh là điều đáng khích lệ. Tuy nhiên,  phải phân biệt đâu là các loại phim có tính lịch sử, tính giáo dục, tính văn học, tính triết học, đâu là những phim ảnh xếp hạng “nhảm nhí”. Việc lựa chọn phim ảnh để giải trí cần phải có sự gạn lọc, nhất là đối với thanh thiếu niên. Người xưa từng dạy “chọn sách mà đọc, chọn bạn mà chơi”, cũng vậy việc chọn lựa những bộ phim giải trí cần có sự phân định thận trọng. Hãy dành những giờ phút thư giãn bằng những bộ phim hữu ích cho tinh thần, đừng để các nhà làm phim “nhảm nhí” “móc túi” và giết thời gian của bạn. Xa hơn nữa, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng những loại phim “nhảm nhí”, rẻ tiền sẽ dần làm cho người xem thiếu cảnh giác có cái nhìn méo mó, tiêu cực về cuộc sống, về lịch sử, về thuần phong mỹ tục..v.v. Hãy nói “Không” (NO) với các loại phim Tàu độc hại, chối bỏ các bộ phim bịa đặt rẻ tiền, cảnh giác với những cuộn video bóp méo, thêu dệt nhảm nhí một cách thô bạo về Phật giáo; làm được điều này có nghĩa là bạn đã và đang góp phần vào sự nghiệp hộ trì Chánh Pháp, ngăn ngừa được những mối hậu hoạ cho dân tộc. 

*

*     *

   Trên đây là những chuyện có thật cùng những suy nghĩ cá nhân, xin gởi đến độc giả gần xa nhằm hầu chuyện trong những lúc thư giãn. Với tri thức hạn hẹp, văn phong còn nhiều luộm thuộm, tác giả bài viết này rất mong nhận được sự chỉ giáo, góp ý từ chư Tôn Đức, các bậc cao minh và thân hữu gần xa!

     

Đại học Delhi, 28 – 07 – 2003

Lê Bích Sơn

 

- Lính Trung Quốc hay các nhà Sư Phật Giáo Tây Tạng?

- Một sách lược đánh phá Phật Giáo, lừa bịp dư luận...

 
 
simple stats
lượt đọc kể từ Mùa Phật Đản 2552 - 2008