Những
Nhà Sư Phật Giáo Nguyên Thủy
Truyền
Giáo Đầu Tiên Ở Sài Gòn - Gia Định
Tỳ kheo Thiện
Minh

Những
người Việt Nam đầu tiên phát động phong trào nghiên cứu Phật giáo Nguyên
thủy có thể nói là cụ Nguyễn Văn Hiểu, Văn Công Hương và Bác sĩ Lê Văn
Giảng. Các người này là những nhà nho, có học thức thời bấy giờ, vì tuổi
đời chồng chất và ngán ngẫm thế sự nên tìm đến sự êm dịu , thanh tịnh và
mát mẻ của tâm hồn bằng con đường sách vỡ. Chính quyển sách "La Sagesse de
Boudha" của người Đức viết bằng tiếng pháp về Phật giáo đã làm chuyển hóa
những tâm hồn vĩ đại đó. Thế rồi ba tâm hồn này tự hứa hẹn nhiệm vụ cho
nhau để mở đạo pháp Nguyên Thủy tại Việt Nam, nhiệm vụ đó là:
-Cụ Nguyễn Văn Hiểu tìm đất xây chùa tạo
tháp để có địa điểm chư Tăng hoằng dương chánh pháp.
- Cụ Văn Công Hương nhận trách nhiệm in
ấn những tài liệu kinh điển cần thiết để truyền bá chánh
pháp.
- Bác sĩ Lê văn Giảng vì đang còn làm
việc ở Campuchia nên nhận trách nhiệm khảo cứu kinh điển Phật giáo và
tìm biện pháp truyền bá Phật giáo Nguyên thủy về Việt
Nam.
Trách nhiệm đã có, ngày chia tay đầy cảm
động, trời đất dường như cũng đồng cảm với ba con người vĩ đại này. Ai
cũng có trách nhiệm với công việc của mình nên không bao lâu hoài bão và
tâm nguyện của các vị này thành tựu. Từ ngày chia tay bác sĩ Lê Văn Giảng
trở về Nam Vang tầm sư học đạo ,sôi mài kinh sử. Với chút vốn liếng hiểu
biết về đạo pháp, bác sĩ chia sẻ cho những người bạn của mình. Nào có ngờ
đâu, Phật pháp nhiệm mầu nên những người bạn của bác sĩ hoan hỷ đến mức độ
bỏ tất cả trần duyên cuộc sống xuất gia theo Phật giáo Nguyên
thủy.
Người đầu tiên tu theo Phật giáo nguyên
thủy là Hòa thượng Thiện Luật, thế danh Ngô Bảo Hộ, sinh năm 1898 tại Sa
Đéc, xuất gia Sa di năm 1934 và xuất gia Tỳ kheo năm 1937. Người thứ hai
là Hòa thượng Huệ Nghiêm, thế danh Hồ văn Viên, sanh tại Sa Đéc, xuất gia
năm 1938. Người thứ ba là hòa thượng Bửu Chơn, thế danh Phạm văn Tông sinh
1914 tại Hội An, Sa Đéc, xuất gia ngày 19 tháng 7 năm 1940. Người thứ tư,
Hòa thượng Hộ Tông, thế danh Lê văn Giảng sinh 1893 quận 7, Phnom- Penh,
xuất gia ngày 15 tháng 10 năm1940.
Tuy nhiên trước đó cũng có một số nhà sư
xuất gia tu theo Phật giáo Nguyên Thủy nhưng những vị này là người việt
gốc Khơme ở sáu tỉnh miền Tây nam bộ. Cố nhiên những vị này cũng có công
rất lớn trong giai đoạn đầu của Phật giáo Nguyên thủy, đó là sư Miên, sư
Sanh, sư Thạnh (trụ trì Chùa Sùng Phước) và sư Bảy Tiệm.
Song song với những nhà sư đó là nhóm Phật
tử Việt kiều ở Campuchia, họ cũng là những người phát huy phong trào
nghiên cứu đạo Phật nguyên thủy và truyền bá chánh pháp. Thầy Tám Học là
người Phật tử có công rất lớn chuyển đổi ngôi chùa Sùng Phước ở Nam Vang
thành ngôi chùa của Phật giáo Nguyên Thủy đầu tiên. Chính địa điểm này là
trung tâm đầu tiên để nhóm cư sĩ Phật tử hội họp bàn thảo về đạo pháp. Ban
dịch thuật lần đầu được thành lập tại đây để dịch những kinh sách cần
thiết giúp ích Phật tử việt Nam hiểu về đạo Phật Nguyên thủy. Nhóm dịch
thuật này do Cư sĩ Lê Văn Giảng (nay là Hòa Thượng Hộ Tông ) làm trưởng
ban. Trong số này có Thầy Sáu Hoa, thầy Ba Diên và thầy Ba Lý là những nhà
dịch thuật rất có tầm cỡ, Thầy Ba Lý dịch nhiều bài kinh trong quyển Nhật
tụng bằng lối văn vần bất hủ như tiểu sử Phật Thích Ca, kinh Phật Nhập Níp
bàn, kinh Vô Thường Khổ Não, Vô Ngã. Và cũng chính nhóm dịch thuật này
thành lập tạp chí Ánh Sáng Phật pháp đầu tiên để phổ giáo lý cho người
Việt Nam. Nhờ hoạt động Phật pháp tốt nên đã gây tiếng vang rất xa, chẳng
bao lâu nhiều nhà trí thức đến cộng tác và hỗ trợ cho công việc truyền bá
Phật pháp về Việt Nam. Trong số những người đến tham gia có ông Sáu Tông
sau này xuất gia trở thành Hòa Thượng Bửu Chơn, một vị cao tăng đóng góp
rất nhiều công trình cho Phật giáo Nguyên Thủy tại Việt Nam trong giai
đoạn đầu.
Về phía cụ Nguyễn Văn Hiểu thì cố công tìm
đất xây chùa, ông tìm một khu đất khá lý tưởng và rất thích hợp cho những
vị Sa môn chân tu thiền định, đó là chùa Bửu Quang ngày nay. Còn nỗi hoan
hỷ nào hơn khi hoài bão và lý tưởng của mình đã thành tựu. Lại nữa hiện
nay có nhiều người Việt Nam đã tu theo Phật giáo Nguyên Thủy, nên ông lập
tức viết thư gởi cho người bạn của mình là bác sĩ Lê Văn Giảng tức Hòa
Thượng Hộ Tông nên nghĩ đến việc truyền đạo về Việt Nam. Hòa Thượng lúc
này bận việc khảo cứu kinh điển và dịch quyển kinh Nhật Tụng để người Việt
tụng niệm công phu tối và sáng. Hòa Thượng bàn lại chuyện này với Hòa
Thượng Thiện Luật và được sự động viên của Phật tử Việt Kiều ở Nam Vang
nên Hòa Thượng Thiện Luật về Việt Nam tiếp nhận chùa Bửu Quang đầu
tiên.
Lần đầu tiên ở Việt Nam có một vị danh
tăng tướng mạo trang nghiêm y bát chỉnh tề đi vào xóm khất thực mỗi buổi
sáng ở ngoại ô thành phố. Cử chỉ và việc làm đó quá lạ đối với dân Việt
Nam, nên óc tò mò của họ, mỗi buổi chiều dân chúng kéo nhau vào chùa Bửu
Quang vấn đạo Hòa Thượng Thiện Luật. Nhờ vậy không bao lâu có được một số
Phật tử nồng cốt biết cung kính chư Tăng, biết bố thí và tham thiền. Sở dĩ
Hòa Thượng thành công bước đầu như vậy phần lớn cũng nhờ cụ Nguyễn Văn
Hiểu và một số bạn bè của cụ. Thế rồi hình ảnh đẹp đó không tồn tại được
bao lâu rồi Hòa Thượng phải trở về lại Nam Vang. Cuối cùng chùa Bửu Quang
lúc này do cư sĩ tạm thời quảng lý. Mặc dù tâm đạo của họ còn non nhưng
niềm tin và sự tin tiến của họ vững chãi. Bận rộn nhiều công việc ở trần
thế nhưng ngày nào họ cũng đến tụng kinh lạy Phật và tham thiền như ông
Hiểu, ông Hương...
Khi cư sĩ Lê Văn Giảng xuất gia thì lúc
bấy giờ cơ duyên về việc hoằng pháp ở Việt Nam đã chính muồi. Chùa chiền
thì cụ Nguyễn Văn Hiểu đã xây dựng, chư Tăng lúc bấy giờ đã xuất gia hơn
năm vị, kinh sách dịch khá nhiều. Theo lời mời của cụ Nguyễn Văn Hiểu,
phái đoàn chư tăng gồm có Hòa Thượng Thiện Luật , Hòa Thượng Huệ Nghiêm và
Hòa Thượng Hộ Tông lên đường sang Việt Nam khai sáng Phật pháp. Ngôi chùa
các ngài dừng chân là chùa Bửu Quang (Ratana) .
Ngôi chùa này là ngôi chùa đầu tiên của
Phật giáo Nguyên thủy sau ngôi chùa Sùng Phước ở Nam Vang. Truyền thống
chư Tăng Nam tông mỗi sáng các ngài điều đi hóa duyên khất thực để cho
Phật tử gieo duyên lành trong chánh pháp. Hình thức khất thực rất đặc biệt
vừa giới thiệu Phật tử hình ảnh cao đẹp của chư Phật trong quá khứ, vừa
nêu cao nếp sông dung dị của chư Tăng và gần gũi với đồng bào Phật tử.
Buổi sáng khất thực còn buổi chiều thuyết pháp giảng đạo dạy thiền cho
Phật tử, nhất là nhóm Phật tử của cụ Nguyễn Văn Hiểu. Nhóm Phật tử này tuy
ít nhưng là thành phần trí thức, do đó họ rất dễ dàng hấp thụ đạo pháp.
Nhờ đạo phong, tài đức và lối thuyết giảng của các ngài cộng thêm sự
truyền đạt lại của nhóm trí thức đạo pháp cho những người bạn và thân bằng
quyết thuộc. Thế là chẳng bao lâu số Phật tử đến quy y theo Phật giáo
Nguyên thủy rất đông như Gia đình bà Cả và ông Xã Hứa, ông Cả Ngưu ở Phú
Nhuận, ông Hương Giáo Thêm (về sau, xuất gia và là trụ trì chùa Giác Quang
), ông Cựu Thông Phán, Phạm Côn Lợi, ông Hương, Quyến, Núi, Cầm và ông
Nhân...
Càng ngày số tín đồ đông đảo nên mỗi buổi
chiều là các ngài luân phiên nhau thuyết giảng Phật pháp và mở lớp dạy
giáo lý cũng như hướng dẫn Phật tử pháp môn thiền. Không khí mỗi ngày ở tổ
đình Bửu Quang lại thêm sinh động. Lúc này Hòa Thượng Bửu Chơn thì đang
trong giai đoạn tu thiền ở rừng trên Nam Vang, cho nên vào mùa hạ thì cụ
Nguyễn Văn Hiểu thỉnh Hòa Thượng xuống dạy thiền và giảng đạo cho Phật
tử.
Sau đó Hòa Thượng Huệ Nghiêm hóa duyên ở
Phú Nhuận và thuận duyên nên ngài được Phật tử hỗ trợ xây một trung tâm
thiền định nhỏ để tự tu và hướng dẫn Phật tử tu thiền. Đây là trung tâm
thiền định đầu tiên (nay không còn nữa), nhờ có trung tâm thiền định nên
Phật tử rất thích đến đây hành đạo để cho tâm tư thanh thản.
Về phía cư sĩ, ông Dương Văn Thêm nhờ hấp
thụ Phật pháp do phái đoàn truyền đạo đầu tiên ở chùa Bửu Quang nên ông
cảm thấy tuổi đời chồng chất và ngán ngẫm thế sự và rồi ông quyết định cất
cốc tu tại gia ở Bình Đông. Chẳng bao lâu duyên lành hội đủ, ông xuất gia
ở Nam Vang và về cốc ở Bình Đông tiếp tục tu hành. Cốc của ngài ở Bình
Đông sau này trở thành chùa Giác Quang là một trung tâm truyền bá Phật
pháp rất mạnh trong giai đoạn đầu. Tại đây nhiều Phật tử đã quy y trở
thành cận sự nam và cận sự nữ hộ trì Phật giáo Nguyên thủy, có rất nhiều
vị tăng tài xuất gia tại ngôi chùa này và phụ các ngài trong công cuộc xây
dựng ngôi nhà Phật giáo Nguyên thủy.
Thế cho nên phái đoàn truyền giáo do Hòa
Thượng Hộ Tông làm trưởng đoàn du nhập Phật giáo Nguyên thủy vào Việt Nam
năm 1939 là một thành tựu lớn. Mặc dù lúc đó người ta chỉ thấy có một vài
nhà sư áo vàng mỗi buổi sáng khất thực trên đường phố, ấy vậy mà ngày nay
nó đã trở thành một tổ chức hệ thống của Phật giáo Nam Tông được nhà nước
công nhận.

|