|
GIẤC MƠ NGÔI CHÙA PHẬT GIÁO TẠI MOSKVA
INNA MALKHANOVA

Riêng tại
Moskva có tới 2000 người Nga theo đạo Phật, vậy mà toàn nước Nga không hề có
một ngôi chùa nào...
Bây giờ thật khó ai có
thể tin được, rằng hồi ấy Kinh Thánh luôn là một cuốn sách cấm. Nếu ai đó
khi ra nước ngoài mua về một cuốn Kinh Thánh, thậm chí bằng tiếng nước ngoài
chứ không phải bằng tiếng Nga, thì người ta cũng sẽ tịch thu nó ngay ở biên
giới, còn “kẻ tội phạm” đã mua nó, thì chắc chắn sẽ gặp muôn vàn phiền toái
ở chỗ làm việc.
Tất cả chúng tôi ở trong các trường đại học bắt buộc phải học một
môn “khoa học” là chủ nghĩa vô thần “khoa học”, còn sinh viên nào dám mạo
hiểm tự gọi mình là một “tín đồ” thì sẽ bị đuổi học. Trong những năm nước
Nga dưới chế độ XHCN, hàng ngàn giáo đường Chính thống giáo, ngôi chùa Phật
giáo, thánh đường Hồi giáo đã bị phá hủy, hàng trăm ngàn tu sĩ đã bị giết
chết.
Chỉ
sau khi Liên Xô sụp đổ, người Nga mới có cơ hội mua và tìm hiểu về các vấn
đề tôn giáo, tự do lựa chọn các tôn giáo để tin theo. Và khi đó, tôi, cũng
như hàng triệu người Nga khác, đã bắt đầu đọc các sách về tôn giáo, đầu tiên
về Thiên chúa giáo, sau đó đến Phật giáo, và thậm chí cả Hồi giáo nữa. Mặc
dù tôi hết sức cố gắng đọc các sách về Thiên chúa giáo và Hồi giáo, nhưng
tôi không cảm thấy một sự đồng cảm nào trong trái tim tôi cả. Ngược lại,
càng đọc nhiều về Phật giáo bao nhiêu, tôi càng muốn đọc nhiều hơn về tôn
giáo này. Và cuối cùng, khoảng 15 năm trước, tôi đã trở thành một phật tử.
Liên Xô trước khi sụp đổ có 280 triệu
người sinh sống. Còn bây giờ ở Nga chỉ còn một nửa dân số, khoảng 140 triệu
người, trong đó có rất nhiều người không phải là người Nga, đa số dân chúng
hoặc là vô thần, hoặc là Chính thống giáo, nhưng cũng có cả những dân tộc
theo Phật giáo nữa, như người Tuvin, Kalmyk, Buriat, Triều tiên, Trung quốc,
và một vài dân tộc khác. Ngay tại Moskva, theo tính toán của tôi cũng có tới
hai ngàn người Nga theo đạo Phật. Ngoài ra còn có hàng trăm ngàn phật tử
người nước ngoài cũng đang sinh sống ở Moskva thuộc các dân tộc khác nhau:
Nhật, Trung quốc, Triều tiên, Việt nam, Thái Lan, Sri Lanca...
Thế mà ở Moskva, thủ đô của Liên Xô
trước đây, và nước Nga bây giờ không hề có một ngôi chùa Phật giáo nào, dù
là nhỏ bé, khiêm nhường nhất. Trong khi đó ở nhiều nước Scandinavo nhỏ hơn
nước Nga rất nhiều, nơi không hề có một phật tử nào sinh ra, hay ở nước Úc
xa xôi, chứ chưa kể đến Pháp, Đức hay Anh, (và không chỉ ở thủ đô, mà ngay
cả những thành phố nhỏ khác) cũng đều có những ngôi chùa Phật giáo, vậy mà ở
Moskva thì không hề có. Những phật tử nước ngoài mới đến Moskva không thể
nào tin vào chuyện này.
Còn bây giờ thì tôi muốn nói về một
chuyện khác. Ở Moskva, ngoài chúng tôi là những người dân gốc Moskva còn có
mấy chục ngàn người Việt Nam nữa. Phần lớn người Việt sinh sống ở đây bất
hợp pháp, không được thống kê ở bất cứ đâu và cũng không có được cái “đăng
ký” ở các cơ quan bộ nội vụ nào. Bởi vì để có được cái “đăng ký” ấy người ta
phải bỏ ra không ít tiền, không ít thời gian và vô số thứ giấy tờ chứng nhận
khác. Chỉ vì thiếu cái dấu “đăng ký” và những hiểu biết về tiếng Nga cần
thiết, mà người Việt trở thành nạn nhân thường xuyên, trở thành nguồn nuôi
sống, và tống tiền của cảnh sát Moskva. Cảnh sát Moskva luôn nhắm người Việt
để săn lùng như săn lùng thú ...quý hiếm trong rừng.
Đã có không ít trường hợp, cảnh sát
không chỉ lấy hết tiền bạc của những người Việt không ai bảo vệ, mà sau khi
bắt giữ, chuyển về đồn, thì một người Việt Nam khỏe mạnh, hay một người phụ
nữ đang sung sức, bỗng biến thành...một cái xác không hồn, mà điều đáng nói
là giấy tờ của họ hoàn toàn hợp lệ. Họ bị thiệt mạng chỉ vì họ đã quá ương
bướng, đã quá tin cậy vào pháp luật và không chịu nộp giao tiền cho những kẻ
trấn lột hợp pháp mà thôi.
Phần lớn người Việt ở Moskva (có lẽ chỉ
trừ một số nhỏ những “soái” - triệu phú các khu chợ hay công ty lớn), đều
cảm thấy mình là một thứ dân hạng hai hay thậm chí hạng ba ở xứ sở này, một
thứ bia đỡ đạn của cảnh sát hay các nhóm phát xít mới ở đây. Khi phải sống
năm này qua năm khác, điều đó thật là khủng khiếp. Khi con người không thể
thay đổi được hoàn cảnh sống xung quanh, thì anh ta chỉ còn biết kiếm tìm
sức chịu đựng từ chính bên trong con người mình, ở thế giới bên trong của
mình và cuối cùng là ở tôn giáo. Tôn giáo - đó là một sức mạnh thật to lớn.
Người ta biết được rằng, trong những trại tập trung thời Stalin, nơi chính
quyền Xô viết đã giết hại hàng chục triệu người, những người sống sót được
đều là những người có một niềm tin nơi tôn giáo nào đó. Còn đối với người
Việt Nam, các phật tử Việt Nam thường tự đặt bàn thờ trong căn hộ họ ở để
làm lễ, vì ở Moskva, như tôi đã nói ở trên, hoàn toàn không có ngôi chùa nào
để họ có thể đến làm lễ những ngày rằm, mồng một hàng tháng.
Khi quyết định trở thành một phật tử,
tôi đã quyết định đi đến chùa và thọ giới ở một vị Thầy thực sự. Nhưng để
làm được như vậy, tôi phải rời khỏi nước Nga, sang một ngôi chùa ở một nước
châu Âu. Năm 1994 tôi đã đến chùa Viên Giác của Thượng tọa Thích Như Điển ở
thành phố Hanover, Đức quốc để thọ giới của một phật tử. Đến lúc đó, ở
Moskva Hội Phật giáo “Thảo đường” của chúng tôi đã hoạt động được hơn một
năm, từ năm 1993. Tại Niệm Phật Đường, các phật tử người Việt có thể cùng
nhau làm lễ Phật và nghiên cứu Phật pháp. Từ đó đến nay đã 11 năm trôi qua
và Hội của chúng tôi vẫn tiếp tục hoạt động. Ở Moskva, ngoài các phật tử
Việt Nam còn có hàng chục các tổ chức Phật giáo khác của người Nga, người
Triều Tiên, Buriat, nhưng vẫn không có một ngôi chùa nào cho họ.
Bao nhiêu năm qua, tôi không chỉ mơ ước
có được một ngôi chùa mà đã bỏ ra biết bao nhiêu công sức để vượt qua muôn
vàn chướng ngại, với hy vọng xây dựng được dù chỉ một ngôi chùa duy nhất,
không phải để dành riêng cho người Việt, mà dành cho tất cả các Phật tử khác
nữa. Tôi đã cố gắng gửi rất nhiều thư, fax, thậm chí đến gặp các nhân vật
lãnh đạo trong thành phố để thuyết phục họ rằng, trong một thành phố đa tôn
giáo như thế này, nơi đã có hàng ngàn ngôi giáo đường Chính thống giáo, vài
thánh đường Hồi giáo, thì cũng phải cho phép xây dựng ít nhất một ngôi chùa
Phật giáo chứ. Điều đó không chỉ vì quyền lợi của các phật tử, mà chính vì
lợi ích của thành phố nữa, vì nó làm tăng uy tín của thành phố, lôi kéo được
các du khách từ các nước châu Á và nhiều điều khác nữa.
Cuộc chiến đấu bền bỉ của tôi với các
cấp chính quyền kéo dài sáu năm, nhưng rồi cuối cùng tôi đã phải chịu thua.
Tất cả các cấp chính quyền, từ phường, quận đến tận thị trưởng Moskva là ông
Ludjkov đều thích cho xây dựng những công trình có thể mang lại những lợi
nhuận kếch xù như casino, siêu thị, cây xăng, mỹ viện...còn đời sống tâm
linh của dân chúng thì họ hoàn toàn chẳng quan tâm đến. Họ chẳng cần đến
chùa...
Những năm đầu tôi đề nghị xin một
khoảng đất nhỏ, (20m x 30m) để xây chùa. Tôi đã ngây thơ làm sao! Đất ở
Moskva được tính bằng vàng, và người ta cấp đất để được nhận những khoản
tiền lớn, trong đó không ít là tiền hối lộ, còn tôi thì hy vọng có thể xin
được chúng!
Tôi đã đi khắp thành phố để tìm kiếm
những “mảnh đất nhỏ”, không thể xây siêu thị hay casino được. Tôi đã đo đạc,
vẽ sơ đồ, đến phòng thiết kế xin phép, rồi lại đến chính quyền. Tôi đã tìm
được hàng chục mẩu đất như vậy. Nhưng rồi chẳng ai cho chúng tôi dù chỉ một
mảnh nhỏ để xây chùa cả. Khi tôi hiểu ra rằng, chúng tôi sẽ chẳng bao giờ
xin được đất. Tôi bắt đầu đi xin nhà có sẵn, nhưng cái vòng luẩn quẩn cũng
lại diễn ra y như vậy. Sau khi viết thư cho chính thị trưởng thành phố, ông
Ludjkov, được ông cho giấy giới thiệu xuống Ủy ban nhà đất Moskva để lựa
chọn một căn phòng có thể sử dụng làm chùa, tôi đã lại một lần nữa ngây thơ
vui mừng, tin tưởng rằng, chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ có được một ngôi
chùa đầu tiên, một ngôi chùa theo phong cách Việt nam thuần túy. Chúng tôi
có thể làm lễ Phật, có thể tổ chức một trung tâm văn hóa Việt nam, mở một
trung tâm từ thiện...
Tôi lại đi vòng quanh thành phố để tìm
kiếm. Tôi cũng hiểu rằng, chẳng ai dại gì cho chúng tôi một tòa nhà đẹp đẽ,
to lớn, nên tôi chỉ đi tìm những ngôi nhà bỏ hoang, nhỏ bé, vừa vặn cho
chúng tôi thôi: một cửa hàng một tầng bị cháy, một trường mẫu giáo hai tầng
bỏ hoang phế...và lại vẽ, lại đo đạc, leo lên sân thượng trên những cầu
thang sắp gãy, trèo xuống tầng hầm bị ngập nước. Đến giờ tôi vẫn còn ngạc
nhiên là mình không bị ai hành hung, vẫn còn sống, dù đã bao nhiêu lần đi
một mình vào những nơi không người, bỏ hoang, tăm tối. Sau những giờ làm
việc mệt mỏi, tôi lang thang đi tìm nhà hoang đến tận tối khuya, đói và mệt,
nhưng trong lòng vẫn được sưởi ấm bằng những hy vọng mong manh. Mỗi khi tìm
được một tòa nhà hoang ưng ý, tôi lại đến xin chính quyền làm giấy cho chúng
tôi, nhưng chỉ nhận được một câu trả lời y như nhau: căn nhà đó đã có chủ!
Tôi lại viết hàng đống thư cho Ludjkov
để hỏi tại sao lệnh của ông...vô nghĩa như vậy. Nhưng ông hoàn toàn không
trả lời chúng tôi thêm một lần nào nữa. Và cuối cùng tôi đã hiểu, chẳng ai
có ý định cấp cho những người phật tử ở đây dù chỉ một mẩu nhỏ đất, dù chỉ
là một căn nhà đổ để làm chùa, ít nhất trong cuộc đời của tôi.
Trước mắt tôi lúc nào cũng hiện lên
ngôi chùa Viên Giác ở Hanover, nơi tôi đã có hạnh phúc được đến một vài lần,
với hình ảnh bàn thờ, đồ gỗ đẹp đẽ. Năm 2000, chùa đã là một đại diện về văn
hóa Việt Nam trong cuộc triển lãm EXPO-2000. Tôi như nhìn thấy những buổi
biểu diễn văn nghệ tự diễn của người Việt thật vui vẻ, thú vị, như nghe thấy
những bài hát Việt nam... Một trung tâm văn hóa, tôn giáo như vậy ở Moskva
sẽ chẳng bao giờ có được.
Và tôi cũng thật mừng cho những
người Việt, dù sống ở một nơi xa quê hương, gia đình - tất nhiên là không
phải ở nước Nga này rồi- nhưng vẫn có được những trung tâm văn hóa, tâm linh
của Việt Nam, để phô diễn với thế giới cái tinh hoa của tâm hồn Việt Nam.

|