|
Một
Vài Đặc Điểm Của Phật Giáo Miền
Trung
(Trước năm 1954)
Trương Minh Dục

Phật giáo Việt Nam là một tôn giáo có bề dày lịch sử, luôn gắn với
dân tộc gần 20 thế kỷ qua. Kể từ ngày Phật giáo được truyền vào Việt Nam, sự
đóng góp to lớn của Phật giáo cho đất nước trong các lĩnh vực chính trị, tư
tưởng, văn hóa là điều không thể phủ nhận. Phật giáo miền Trung, một bộ phận
Phật giáo của Việt Nam, là một trong những khu vực hội tụ và là nơi phản
chiếu các hoạt động của Phật giáo với sức lan tỏa rất lớn. Bên cạnh những
đặc điểm chung của Phật giáo cả nước, Phật giáo miền Trung trong quá trình
phát triển in đậm những nét đặc thù, có bản sắc riêng so với Phật giáo miền
Bắc. Đây là một vấn đề tế nhị, phức tạp cần phải có một cách nhìn toàn diện,
lịch sử cụ thể khi nghiên cứu. Sự đa dạng, phức tạp của phật giáo Việt Nam
nói chung và Phật giáo miền Trung nói riêng bắt nguồn từ sự biến đổi hình
thái kinh tế-xã hội, điều kiện lịch sử từng thời kỳ. Tìm hiểu đặc điểm chung
và riêng của bức tranh trên chính là yêu cầu xác định một thế ứng xử đúng
đắn đối với hoạt động của Phật giáo hiện nay.
Có thể nói rằng Phật giáo Việt
Nam nói chung và Phật giáo miền Trung nói riêng là một thực thể không thuần
nhất; ở mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử ở khu vực, địa phương khác nhau,
Phật giáo mang những nét riêng rất đặc thù và phong phú. Đặc điểm nổi bậc
này của Phật giáo miền Trung đã và đang tiếp tục ảnh hưởng ít nhiều đến sinh
hoạt Phật giáo hiện nay.
1. Sự đa dạng về tông phái của Phật giáo miền Trung
Nghiên cứu lịch sử Phật giáo, ta
thấy rằng Phật giáo ra đời ở Ấn Độ, nhưng trong quá trình phát triển của nó,
ngay từ rất sớm, đã bị phân chia thành hai trường phái: Đại thừa và Tiểu
thừa. Khi Phật giáo du nhập vào quốc gia nào thì tự nó hội nhập với cộng
đồng, với truyền thống tập quán của dân tộc đó, hình thành trên những nét
đặc thù của mình. Việt Nam nằm giữa vùng giao lưu Ấn Độ và Trung Quốc nên đã
tiếp nhận Phật giáo bằng cả hai con đường Bắc và Nam: Đại thừa ở miền Bắc và
Tiểu thừa ở miền Nam. “Đây là hiện tượng không có hay là ít thấy một cách rõ
nét ở vùng Đông Á và Nam Á. Chỉ có Việt Nam là nước đệm mới có hai hình thức
Phật giáo Bắc tông và Nam tông chung sống như vậy” (1). Điều này được thể
hiện rõ nét ở miền Trung và miền Nam (ngoài Phật giáo Bắc tông, còn có Phật
giáo Nam tông-Nam tông của người Việt và Nam tông của người Khmer, Phật giáo
Hòa Hảo, Phật giáo Khất sĩ).
Nhìn tổng thể mà xét thì Phật giáo truyền vào nước ta chủ yếu là
Phật giáo Đại thừa với ba tông phái: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông.
Trong đó đáng chú ý là việc các phái Thiền Trung Quốc du nhập vào Việt Nam
là Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Thiền Vô Ngôn Thông; Thiền Thảo Đường. Sau này
những người có công lớn trong việc đặt cơ sở cho việc hợp nhất ba thiền phái
nói trên thành thiền mới nhập thế của Việt Nam là Thiền Trúc Lâm Yên Tử là
Thiền sư Thường Chiếu, Tuệ Trung Thượng sĩ và vua Trần Nhân Tông. Sự ra đời
của Thiền Trúc Lâm Yên Tử như là một sự lựa chọn các yếu tố Phật giáo phù
hợp với tinh thần dân tộc. Đó là sự kết hợp giữa tính chất huyền thoại và
tính triết lý, tư duy trừu tượng ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống xã
hội. Từ thế kỷ XVI trở đi, do cách biệt về mặt địa lý, chính trị, lịch sử
(cụ thể là sự phân tranh Trịnh-Nguyễn), “sự cách biệt giữa Phật giáo miền
Bắc, miền Trung và miền Nam lại càng thêm sâu sắc”(2). Phật giáo miền Trung
và miền Nam đa dạng, phong phú hơn (đặc biệt là sự đa dạng về tông phái).
Nghiên cứu lịch sử Phật giáo ta thấy: nguyên nhân sự phân chia thành các
tông phái của Phật giáo không phải do mâu thuẫn về tổ chức hay tranh giành
về quyền lợi trong Tăng chúng, mà do những quan điểm khác nhau về kinh điển,
giáo thuyết. Nhưng khi du nhập vào Việt Nam do tác động bởi nhiều yếu tố,
các tông phái đó lại chia ra làm nhiều chi phái khác nhau: Phật giáo Việt
Nam từ khi truyền bá đến nay, về cơ bản vẫn là lịch sử của các phái Thiền.
Tuy nhiên, trong quá trình du nhập và phát triển, Thiền tông Việt Nam lại có
sự biến đổi phù hợp với tâm lý, tín ngưỡng của người Việt Nam. Đó cũng là
quá trình biến đổi dung hợp với Nho, Đạo và các dòng phái Phật giáo khác như
Tịnh Độ tông và Mật tông để tạo nên các dòng Thiền mang đậm sắc thái Việt
Nam như: Thiền Trúc Lâm, Thiền Tào Động. Điều này được minh chứng rõ nét qua
lịch sử Phật giáo Đàng Trong. Ngay từ khi mới vào cát cứ Đàng Trong (1558),
Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng ngoài việc chăm lo mở rộng đất đai, củng cố lực
lượng ông còn chú trọng việc xây các chùa, viện, trọng đãi Thiền Tăng - như
việc xây chùa Thiên Mụ (năm 1601 ở Huế), chùa Bảo Châu (năm 1607 ở Trà Kiệu,
Quảng Nam).v.v. Nhìn chung từ thế kỷ XV phái Thiền Trúc Lâm có điều kiện để
mở rộng phạm vi trên vùng đất mới này và đặc biệt giữa thế kỷ XVII
(1660-1680) phái này lại được phục hưng mạnh mẽ ở vùng Quảng Trị, Thuận Hóa
với sự xuất hiện của Thiền sư Viên Cảnh-Lục Hồ, Viên Khoan-Đại Thâm và quan
trọng là Thiền sư người bản địa Minh Châu-Hương Hải. Được sự mến mộ của Chúa
Nguyễn Phúc Tần cho lập Thiền Tĩnh viện ở núi Linh Thái (Phú Lộc, Thừa
Thiên) vào những năm 1667-1682, sơn môn của Thiền sư Hương Hải rất thịnh
vượng (Thiền Tĩnh viện là trung tâm Phật giáo nổi tiếng ở Đàng Trong lúc bấy
giờ). Nhưng sau đó do bị nghi kị là có quan hệ với Phật giáo Đàng Ngoài,
chúa Nguyễn Phúc Tần đã buộc Thiền sư Hương Hải vào Quảng Nam để hoằng hóa,
nhưng sau đó ông đã bỏ ra Đàng Ngoài để phục hưng phái Thiền của mình. Trong
thời gian đó, vào năm 1667, vào thời chúa Nguyễn Phúc Tần, Tổ sư Nguyên
Thiều-Siêu Bạch (người Quảng Đông, Trung Quốc) đã vượt biển đến Bình Định
lập chùa Thập Tháp Di Đà (huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định) truyền bá rộng rãi
phái Thiền Lâm Tế. Tổ đình Thập Thấp rất uy nghiêm cổ kính và là một trong
những trung tâm đào tạo Tăng tài nổi tiếng khắp cả miền Trung và miền Nam.
Sau khi không tin phái Thiền Trúc Lâm, chúa Nguyễn Phúc Tần trọng dụng phái
Lâm Tế và đã mời tổ sư Nguyễn Thiều ra Thuận Hóa để hoằng dương Phật pháp.
Thiền sư Nguyên Thiều đã lập chùa Hà Trung (Phú Lộc, Thừa Thiên), dựng chùa
Quốc Ân và xây tháp Phổ Đồng. Cùng với Nguyên Thiều, các đệ tử và pháp tôn
của dòng phái Thiền Lâm Tế đã nỗ lực tuyên dương chánh pháp hằng truyền
chánh đạo làm cho Phật giáo đàng Trong phát triển đa dạng và rộng khắp mọi
nơi. Đó là việc Thiền sư Minh Hoàng - Tử Dung (người Trung Quốc) khai sáng
chùa Ấn Tôn (nay là chùa Từ Đàm) ở Huế, Thiền sư Minh Hải – Pháp Bảo (người
trung Quốc) khai sáng chùa Chúc Thánh ở Hội An; Thiền sư Pháp Hóa khai sáng
chùa Thiên Ấn ở Quảng Ngãi; Thiền sư Tế Viên khai sáng chùa Hội Tôn ở Phú
Yên. Sau đó từ năm 1691-1695 ở Đàng Trong, dưới thời các chúa Nguyễn Phúc
Tần và Nguyễn Phúc Chu có nhiều cuộc biến loạn, Tổ sư Nguyên Thiều và các
Thiền sư phái Lâm Tế bị liên lụy buộc phải rời khỏi thành Phú Xuân. Để thay
thế phái Lâm Tế, chúa Nguyễn Phúc Chu đã tạo điều kiện cho phái Thiền Tào
Động du nhập và phát triển. Người đặt cơ sở cho sự du nhập của phái Thiền
Tào Động ở Đàng Trong là Thiền sư Hưng Liên - Quả Hoàng (người Trung Quốc)
và vai trò hoằng dương Chánh pháp của Thiền sư Thạch Liêm. Tư tưởng Thiền
của Thạch Liêm là Thiền - Tịnh song tu, nhưng phương thức hành thiền thì lấy
Tịnh Độ tông làm chính. Tuy vậy, do ít có cơ sở xã hội, tư tưởng Thiền của
Ngài Thạch Liêm tồn tại trong giai đoạn này chỉ có vai trò là cố vấn chính
trị và chủ yếu xuất phát từ yêu cầu chính trị. Do vậy, sự tồn tại của phái
này chỉ nhất thời và sau đó suy yếu nhanh chóng (đặc biệt sau khi Thiền sư
Thạch Liêm trở về Trung Quốc năm 1696).
Phái Thiền Lâm Tế mặc dù không
còn được chúa Nguyễn tin dùng nhưng có vai trò quan trọng trong việc cố kết
lòng dân, ổn định đời sống tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân. Đó là cơ sở
để cho phía Thiền Lâm Tế tồn tại, phát triển, ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống
xã hội trong giai đoạn từ thế kỷ XVIII, ngay trong phái Thiền Lâm Tế ở miền
Trung đã xuất hiện 3 chi phái của Thiền Lâm Tế là: Lâm Tế Nguyên Thiều ở
Bình Định; Lâm Tế Minh Hải – Pháp Bảo ở Quảng Nam và Bình Định, cùng Lâm Tế
Liễu Quán ở Huế (Lâm Tế Liễu Quán ở Huế là dòng phái Thiền riêng của Việt
Nam, đồng thời là dòng thiền riêng của Huế).
2. Sự đa dạng về tổ chức của Phật giáo miền Trung
Trải qua các cuộc chiến tranh
Trịnh - Nguyễn, Tây Sơn - Nguyễn, Tây Sơn - Trịnh… Phật giáo lâm vào tình
trạng suy thoái. Dưới triều đại nhà Nguyễn (1802-1945), tuy Phật giáo vẫn
được duy trì và phát triển ở mức độ nhất định để ổn định xã hội và thu phục
lòng dân, nhưng lúc này Nho giáo được nhà Nguyễn đưa lên địa vị độc tôn, làm
chỗ dựa về tư tưởng, chính trị, xã hội. Do vậy, việc xiển dương đạo pháp của
không ít vị vua nhà Nguyễn xuất phát từ ý đồ chính trị đã xen vào Phật giáo,
tất cả đều phục tùng uy quyền chính trị của “thiên tử”. Đồng thời, việc sắc
phong của triều đình đối với một số chùa, Hòa Thượng, Tăng Cang, kèm theo là
một chuỗi các quyền lợi đã dần hình thành một hệ thống các quan tự và quốc
tự. Yếu tố danh chính của việc làm này, đã xảy ra hiện tượng phân biệt trong
nội bộ Phật giáo. Mặt khác, trong giai đoạn thống trị của người Pháp, việc
tạo điều kiện cho Kitô giáo phát triển, Phật giáo bị chèn ép và có nguy cơ
bị đẩy lùi và đánh mất chỗ đứng trong xã hội. Trước tình hình đó, vào những
năm 30 của thế kỷ này, một số nhà tu hành cùng với một số nhân sĩ trí thức
có tinh thần mến đạo đứng ra vận động chấn hưng Phật giáo. Phong trào Chấn
hưng Phật giáo bắt đầu khởi phát ở miền Nam với những cuộc vận động của
Thiền sư Khánh Hòa và dẫn tới việc thành lập Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học
năm 1930 (tại chùa Linh Sơn, Sài Gòn). Ở miền Trung, dưới sự hỗ trợ và khích
lệ của Hòa Thượng Chơn Luận - Phước Huệ (3) và một số thiền sư có uy tín ở
Huế, Hội An Nam Phật Học (sau này đổi tên là Hội Phật học Trung Việt) được
thành lập năm 1932 và các tổ chức giáo dục thanh niên Phật học Đức dục năm
1940, Hội thanh niên Phật tử năm 1943, các tổ chức tiền thân của gia đình
Phật tử, do bác sĩ cư sĩ Lê Đình Thám và các trí thức Phật giáo khác ở Huế
như Nguyễn Khoa Toàn, Nguyễn Khoa Tân, Tôn Thất Tùng, Lê Thanh Cảnh, Ưng
Bình, Nguyễn Hữu Ba lãnh đạo. Tôn chỉ của phong trào Chấn hưng là loại trừ
phần mê tín dị đoan, chỉnh đốn hàng ngũ Tăng chúng, xây dựng nền nếp Phật
giáo và văn hóa Việt Nam chân chính. Nói đến Huế, không thể không nói đến Từ
Đàm, Thiên Mụ, Bảo Quốc, Từ Lâm, Quốc Ân, Hà Trung… Nói đến Quảng Nam phải
kể đến chùa Chúc Thánh, Tam Thai, Bảo Châu… hoặc là những ngôi chùa nổi
tiếng khác như Thiên Ấn (Quảng Ngãi), Tổ đình Thập Tháp, chùa Long Khánh
(Bình Định) và Hội Tôn (Phú Yên). Mỗi chùa đó đều gắn với việc sáng lập,
khai sáng và sự nỗ lực tuyên dương chánh pháp, hoằng truyền chánh đạo của
các tổ sư Nguyên Thiều – Siêu Bạch, Minh Hoằng - Tử Dung, Minh Hải – Pháp
Bảo, Hưng Liên - Quả Hoàng, Từ Lâm, Tế Viên và các Hòa thượng Minh Giác - Kỳ
Phương, Thật Kiến - Liễu triệt, Tế Đoan - Họa Nhiên, Tế Trí - Hữu Phỉ, Chơn
Luận - Phước Huệ… cùng các đệ tử khác như T. Trí Thủ, T. Trí Quang, T. Trí
Tịnh, T. Thiện Minh, T. Thiện Siêu, T. Mật Hiển, T. Mật Nguyện, T. Mật Thể,
sư bà Diệu Không, ni sư Diệu Huệ, v.v.
Năm 1950, Phật giáo Việt Nam là thành viên sáng lập Hội Phật giáo
thế giới. Năm 1951, Tổng Hội Phật giáo Việt Nam được thành lập ở chùa Từ Đàm
(Huế) do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm hội chủ.
Như vậy, Phật giáo Đàng Trong (kể
từ thế kỷ XVI) nói chung và Phật giáo miền Trung nói riêng có lúc thịnh lúc
suy theo từng giai đoạn lịch sử. Trước thời kỳ “Phật giáo canh tân”, xét về
tổ chức tuy “không thống nhất mà thống nhất”, nghĩa là sự phân chia các tông
phái không phải do mâu thuẫn tổ chức hay tranh giành quyền lợi địa vị trong
tăng chúng mà chủ yếu do những quan điểm khác nhau về kinh điển và giáo
thuyết.
Trong các giai đoạn tiếp theo, sự
tác động của các yếu tố chính trị, kinh tế - xã hội, Phật giáo miền Trung có
sự thay đổi, biến dạng rất phức tạp. Lúc này, ở miền Trung và miền Nam lại
có thêm 22 hệ phái và 34 tổ chức với nhiều hình thức và pháp tu hành khác
nhau. Từ sự đa dạng về tông phái, tổ chức dẫn đến sự không thống nhất về tư
tưởng, cần có sự nghiên cứu và lý giải thấu đáo.
Nghiên cứu kỹ những nét đặc thù
của Phật giáo miền Trung trong lịch sử, thấy được các mối liên hệ chằng
chịt, đan xen giữa các tông phái, chi phái và các tổ chức; giữa các danh
Tăng với nhau; giữa Tổ sư và các đệ tử; giữa đạo và đời mới thấy được xu
hướng phát triển của Phật giáo miền Trung trong giai đoạn hiện nay./.
------
1. Minh Chi. Bản sắc riêng của Phật giáo
miền Nam. Tạp chí Xưa và nay, số 55 (9/1998), tr.37, 38, 39.
2. Minh Chi.
Bđđ
3. Hòa
thượng Chơn Luận, Phước Huệ (1870-1945) trú quán An Nhơn,
Bình Định là người trụ trì Tổ Đình Thập Tháp (Bình Định) từ năm 1905. Học
trò của Hòa thượng Chơn Luận là những bậc Long - Tượng trong hàng giáo phẩm
Giáo hội như Hòa thượng trí Thủ, Trí Quang, Trí Tịnh, Thiện Siêu, Trí Thành,
Mật Thể, Mật Nguyện, Mật Hiển, Thiện Hoa và các cư sĩ Lê Đình Thám, Tôn Thất
Tùng, Lê Văn Định, Nguyễn Khoa Toàn.

|