|
Tìm hiểu sự hình thành
và phát triển của
Thiền phái Lâm Tế Chúc
Thánh tại Quảng Nam
Thích Giải Nghiêm
A. DẪN
NHẬP
1. LÝ DO
CHỌN ĐỀ TÀI:
Đàng
Ngoài-Đàng Trong, một giai đoạn bi ai của lịch
sử dân tộc Việt Nam. Sự phân chia đất nước kéo
dài trên 170 năm với 7 lần hưng binh đánh nhau
khiến cho muôn dân đồ thán. Cục diện huynh đệ
tương tàn của hai nhà Trịnh -Nguyễn chưa kết
thúc thì tiếp đến cuộc chiến tranh nông dân Tây
Sơn lại nổi lên. Tiếng binh reo, ngựa hý, gươm
khua không bao giờ ngớt trên đất mẹ Việt Nam
thân yêu trong suốt 200 năm. Thế nhưng, trong
suốt hai thế kỷ ấy, Phật giáo tại Đàng Ngoài
cũng như Đàng Trong lại hưng thịnh và phát triển.
Cũng thật dễ hiểu, đạo Phật là đạo của Từ Bi và
Trí Tuệ, sự phát triển của Phật giáo đã xoa dịu
nỗi đau thương của dân tộc do chinh chiến gây
nên.
Ở Đàng
Ngoài, Phật giáo đã có một quá trình du nhập,
định hình nên dễ dàng thuận lợi trong việc ổn
định và phát triển. Còn Đàng Trong là một vùng
đất mới, được hình thành bởi chủ trương Nam tiến
của vua Lê Thánh Tông cho đến các chúa Nguyễn,
tuy chưa được ổn định nhưng Phật giáo lại rất
hưng thịnh. Tại nơi đây, các dòng Thiền được
truyền bá và phát triển mạnh mẽ, trong đó có
Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh.
Thiền
phái Lâm Tế Chúc Thánh là một trong những chi
nhánh của dòng Thiền Lâm Tế tại Trung Hoa. Dòng
Thiền Lâm Tế Chúc Thánh được Tổ sư Minh Hải -
Pháp Bảo khai sáng vào những năm cuối thế kỷ
XVII tại chùa Chúc Thánh tỉnh Quảng Nam. Vì thế,
dòng Thiền này còn có tên gọi khác là Thiền phái
Minh Hải - Pháp Bảo.
Kể từ khi
Tổ sư Minh Hải khai sơn xuất kệ truyền thừa,
Thiền phái Chúc Thánh đã trải trên 300 năm hình
thành và phát triển. Trong suốt chuỗi thời gian
song hành cùng dân tộc, các Thiền sư thuộc Thiền
phái Lâm Tế Chúc Thánh đã đem ý chỉ của Tổ
truyền bá khắp mọi nơi và góp vào lịch sử Phật
giáo Việt Nam những trang sử vàng son châu ngọc.
Ngày nay, Thiền phái Chúc Thánh có mặt khắp các
tỉnh miền Trung và Nam Việt Nam, thậm chí còn
phát triển mạnh tại các nước Âu - Mỹ. Với một
Thiền phái lớn như vậy, nhưng các nhà viết sử
Phật giáo Việt Nam lại ít đề cập đến, nếu có
cũng chỉ vài nét khái lược. Không muốn bị lãng
quên bởi thời gian, nhằm khẳng định lại vị thế
và những cống hiến tích cực của Thiền phái Chúc
Thánh trong dòng sử Phật Việt nên người viết đã
chọn đề tài này để làm luận văn tốt nghiệp. Đây
cũng là một việc làm mang tính chất “Ẩm Thủy Tư
Nguyên" của hàng con cháu đối với các bậc Tổ sư
trong Tông Môn đã dày công giáo hóa. Đồng thời,
cũng là tâm nguyện của người viết thực hiện theo
di ý của Bổn Sư, ngõ hầu báo đáp thâm ân giáo
dưỡng trong muôn một.
2. NHỮNG
TÁC PHẨM NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY:
Từ trước
đến nay, đã có một số tác phẩm đề cập đến Tổ sư
Minh Hải và dòng Thiền Chúc Thánh, chẳng hạn như:
Việt Nam Phật giáo sử luận (tập II) của Nguyễn
Lang, NXB Văn Học Hà Nội,1992; Lịch sử Phật giáo
Việt Nam của Thích Minh Tuệ, Thành hội Phật giáo
TP Hồ Chí Minh,1993; Việt Nam Phật giáo sử lược
của Mật Thể, NXB Thuận Hóa - Huế, 1993; Lịch sử
Phật giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức, NXB
TP.HCM, 1995; Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam (giáo
trình lưu hành nội bộ) của Chơn Phát, 1998.
Trong những tác phẩm này, chỉ có cuốn Lịch sử
Phật giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức là đề
cập nhiều đến Thiền phái Chúc Thánh. Nhưng rất
tiếc, những sử liệu ông đưa ra vẫn còn nhiều
điều cần phải bàn. Gần đây, thầy Thích Hạnh
Thiện với luận văn “Thiền sư Minh Hải và Tổ
đình Chúc Thánh”, đề tài tốt nghiệp Học Viện
Phật Giáo Việt Nam tại Huế - Khóa I (1997 -
2001) cũng rất công phu. Tuy nhiên, Thầy chỉ
giới hạn nơi Tổ sư Minh Hải và Tổ đình Chúc
Thánh chứ chưa đi sâu, làm sáng tỏ hơn những
đóng góp của Thiền phái Chúc Thánh đối với lịch
sử Phật giáo Quảng Nam nói riêng và Phật giáo
Việt Nam nói chung. Qua những công trình của
người đi trước, chúng tôi xin trân trọng cám ơn
và ghi nhận. Bởi lẽ, những tư liệu này giúp ích
rất nhiều cho việc tham khảo và cũng là nguyên
nhân để chúng tôi thực hiện luận văn này.
3. PHẠM
VI NGHIÊN CỨU:
Theo như
đề tài của luận văn, người viết chỉ đề cập đến
quá trình hình thành và phát triển của Thiền
phái Chúc Thánh tại Quảng Nam.
- Về mặt
thời gian: Từ những năm đầu khi Ngài Minh
Hải-Đắc Trí-Pháp Bảo đời 34 Lâm Tế khai sơn Chúc
Thánh cho đến thế hệ truyền thừa đời 43, 44 của
Thiền phái này. Như vậy, khoảng thời gian này
kéo dài từ cuối thế kỷ XVII đến những năm cuối
thế kỷ XX.
- Về mặt
không gian: đề tài giới hạn trong phạm vi tỉnh
Quảng Nam, là nơi phát tích của Thiền phái Chúc
Thánh.
- Trong
chương 3, người viết xin được tóm lược vài nét
về sự truyền thừa, ảnh hưởng của Thiền phái Chúc
Thánh đối với sinh hoạt của Phật giáo tại các
tỉnh miền Trung và Nam Việt Nam cũng như Hải
ngoại. Từ đó, nói lên được tầm quan trọng cũng
như những đóng góp của dòng Thiền này đối với
Đạo pháp và Dân tộc.
4. NGUỒN
TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Nguồn tư
liệu, đây là vấn đề ưu tư và nan giải của người
viết. Bởi lẽ, xưa nay chư Tổ của Thiền phái với
tư tưởng “Nhạn vô lưu tích chi ý” nên
không chú trọng đến việc ghi lại sử liệu. Có
chăng cũng chỉ còn lại một vài văn bia bằng đá
ghi lại tiểu sử các vị Tổ hay bia công đức ở rải
rác một số chùa trong tỉnh.
Phương
pháp nghiên cứu là kết hợp giữa nghiên cứu văn
bản và nghiên cứu điền dã. Nghĩa là người viết
cố gắng sưu tầm tất cả những sử liệu liên quan
đến Thiền phái Chúc Thánh nằm rải rác khắp nơi.
Đồng thời đi khảo sát thực tế tại một số chùa và
tham vấn các vị trưởng lão trong môn phái. Từ
đó, hệ thống lại, đối chiếu phân tích để có thể
đưa ra một sự chuẩn xác theo yêu cầu của đề tài.
5. ĐÓNG
GÓP CỦA ĐỀ TÀI.
Đề tài
này sẽ có những đóng góp cụ thể như sau:
a. Xác
định hành trạng của Tổ sư Minh Hải cũng như quá
trình khai sơn chùa Chúc Thánh để tránh những
hiểu lầm, suy luận không căn cứ của một số vị
khi tìm hiểu về Tổ sư Minh Hải và Thiền phái
Chúc Thánh.
b. Phác
họa lại quá trình hình thành, phát triển và
những đóng góp tích cực của Thiền phái Chúc
Thánh đối với Đạo pháp và Dân tộc. Từ đó, khẳng
định lại tầm quan trọng và vị trí của Thiền phái
này trong dòng chảy của lịch sử Phật giáo Việt
Nam.
c. Với
tinh thần “Ôn cố tri tân”, tìm hiểu về
cội nguồn của Tông phong Pháp phái để soi gương
cổ đức mà nhìn lại chính mình. Đồng thời, người
viết mong rằng, luận văn sẽ là tiền đề sơ khởi
để về sau có thể đi sâu hơn nữa trong lãnh vực
nghiên cứu này.
Tập luận
văn này hoàn thành một phần nào đó đánh giá quá
trình 4 năm theo học tại Học Viện Phật Giáo Tp.
Hồ Chí Minh. Trong khoảng thời gian này, chúng
tôi nhận được rất nhiều sự trợ duyên từ chư Tôn
đức Tăng Ni cũng như quý đạo hữu Phật tử. Qua
đây, chúng tôi cũng xin chân thành cảm niệm và
nhớ mãi những thắng duyên ấy. Đồng thời, người
viết xin trân trọng tri ân giáo sư Nguyễn Khắc
Thuần đã tận tình hướng dẫn để tập luận văn này
được hoàn thành như ý nguyện.
Chương 1
THIỀN SƯ MINH HẢI
VÀ SỰ KHAI SÁNG
THIỀN PHÁI LÂM TẾ
CHÚC THÁNH
1.1 BỐI
CẢNH QUẢNG NAM NỬA CUỐI THẾ KỶ XVII.
1.1.1
Khái Quát Quá Trình Hình Thành Tỉnh Quảng Nam.
Kể từ độ
cha ông mang gươm đi mở nước với chủ trương Nam
tiến, cánh chim Lạc đã sải cánh bay mãi vào
phương Nam đến tận Hà Tiên-Rạch Giá. Một trong
những vùng đất đầu tiên sáp nhập vào bản đồ Đại
Việt chính là tỉnh Quảng Nam. Mảnh đất “chưa
mưa đã thấm” này đã ghi lại những dấu chân
hoang sơ của người Việt trong suốt thời gian mở
mang bờ cõi.
Sau cuộc
hôn nhân của Huyền Trân công chúa với vua Chiêm
là Chế Mân vào năm 1308, lãnh thổ Đại Việt mở
rộng đến Quảng Bình và Quảng Trị. Đến thời nhà
Hồ (1400-1407), sau khi thương thảo thì vua
Chiêm nộp thêm đất Chiêm Động và Cổ Lũy, tức là
Quảng Nam ngày nay. Vua Hồ Quý Ly chia đất này
thành bốn châu là Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa rồi đặt
lộ Thăng Hoa thống lãnh bốn châu ấy. Đến thời
vua Lê Thánh Tông, Hồng Đức năm thứ 2 đã Tổ chức
lại hành chánh các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa;
đồng thời đặt làm Đạo thừa tuyên Quảng Nam. Danh
từ Quảng Nam bắt đầu có tên trên bản đồ Đại Việt
từ lúc ấy.
Vào thế
kỷ XV, Đạo thừa tuyên Quảng Nam có diện tích từ
phía Nam Thuận Hóa vào đến núi Thạch Bi ở Phú
Yên bao gồm 4 phủ 14 huyện [14,35]. Sau đó, vào
năm 1490 đổi lại là xứ Quảng Nam, năm 1520 gọi
là trấn Quảng Nam và đến khi Nguyễn Hoàng vào
trấn nhậm 2 xứ Thuận-Quảng thì đổi lại là dinh
Quảng Nam. Sau khi thống nhất đất nước, vua Gia
Long đổi lại là Trực lệ Quảng Nam thuộc kinh sư.
Đến năm 1832, vua Minh Mạng đổi thành tỉnh Quảng
Nam. Sau Cách mạng tháng 8-1945 và đến năm 1975
thì Quảng Nam Đà Nẵng có 12 huyện, 2 thị xã và 1
thành phố. Đến năm 1997 tách tỉnh Quảng Nam Đà
Nẵng thành 2 đơn vị: tỉnh Quảng Nam và thành phố
Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam gồm có 12 huyện và 2 thị
xã [14, 84].
Như vậy,
kể từ khi sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt và có
tên gọi Quảng Nam, tính đến nay tỉnh Quảng Nam
đã có trên 500 năm lịch sử. Trải qua bao sự hưng
phế, thịnh suy của các triều đại cũng như các
chính thể và tùy theo sự phân chia địa lý hành
chính mà diện tích tỉnh Quảng Nam có khi rộng,
khi hẹp. Tuy vậy, Quảng Nam vẫn lại là Quảng Nam
chứ không thay đổi tên gọi nào khác và mảnh đất
này có vị trí rất đặc biệt trong tiến trình mở
nước của lịch sử dân tộc.
Ngày hôm
nay, Quảng Nam được coi như là vùng đất trung
tâm của hai đầu Tổ quốc. Nhưng cách đây khoảng 3
thế kỷ, Quảng Nam là biên giới phía Nam của Đại
Việt, một vùng đất mà mỗi khi nghe nhắc đến thì
người dân tại các đạo thừa tuyên Thanh Hóa, Nghệ
An thường than thở:
“Dậm chân xuống
đất kêu trời
Chồng tôi vô
Quảng biết đời nào ra”
Ca dao
Như vậy,
Quảng Nam là mảnh đất “đầu sóng ngọn gió”
trong những năm đầu thế kỷ XVII và suốt cả cục
diện Đàng Ngoài-Đàng Trong. Về địa hình, Quảng
Nam có bờ biển chạy dài từ Bắc đến Nam, sau lưng
là dãy Trường Sơn sừng sững án ngữ suốt cả một
vùng biên giới Việt-Lào. Do Quảng Nam có một vị
trí quan trọng nên được các chúa Nguyễn quan tâm
lưu ý. Dưới thời các chúa Nguyễn, Quảng Nam được
coi như là kinh đô thứ hai sau Thuận Hóa. Vì thế,
các chúa Nguyễn đều cho các Thế tử vô trấn nhậm
Quảng Nam một thời gian trước khi chính thức nối
ngôi Chúa. Về chính trị, Quảng Nam là một trung
tâm hành chánh nối liền phủ Chúa đến các tỉnh
mới lập ở phía Nam cũng như giao lưu quốc tế. Về
quân sự, Quảng Nam có một vị trí chiến lược đặc
biệt quan trọng trong việc phòng thủ chánh dinh
Thuận Hóa cũng như mở mang bờ cõi. Thời bấy giờ,
dinh trấn Thanh Chiêm-Quảng Nam là căn cứ quân
sự thủy lục hùng mạnh nhất của chúa Nguyễn. Từ
căn cứ này, thủy quân dễ dàng tiếp cứu Quảng
Bình khi có quân Trịnh xâm lấn và ngăn chặn tàu
nước ngoài quấy nhiễu vùng biển. Cũng từ đây, bộ
quân dễ dàng hành quân hỗ trợ cho các cuộc Nam
tiến. Về phương diện ngoại giao, kinh tế, văn
hóa thì hải cảng Hội An thuộc dinh Quảng Nam là
một trong những thương cảng phồn thịnh bậc nhất
Đàng Trong thời bấy giờ. Đây là nơi giao lưu văn
hóa giữa các quốc gia trong vùng và các nước
phương Tây. Nơi đây là nơi mà các đoàn ngoại
giao nước ngoài đến nghỉ chân để tiếp tục ra
Thuận Hóa gặp nhà Chúa. Các nhà văn hóa lớn nước
ngoài có ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam như Hòa
thượng Thạch Liêm (1633-1704), học giả Chu Thuấn
Thủy (1600-1682), giáo sĩ Alexandre de Rhodes
(1593-1660) v.v… đều đến ngụ Hội An một thời
gian và đánh giá vùng đất này có tiềm năng về
mọi mặt, là cửa ngõ quan trọng của Đại Việt.
1.1.2
Tình Hình Chính Trị Xã Hội:
Sau cái
chết của Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng lo sợ cho số
phận của mình nên đến vấn kế Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Với tám chữ ngắn gọn “Hoành sơn nhất đái, vạn
đại dung thân”, Trạng Trình đã mở cho Nguyễn
Hoàng một con đường sống, không những vậy mà còn
tạo dựng nên một cơ nghiệp lâu dài về sau.
Tháng 10
năm 1558, Nguyễn Hoàng được vua Lê Anh Tông
phong tước Đoan quận công và cử vào trấn nhậm
đất Thuận Hóa. Đến năm 1570, Ông được nhà vua
cho kiêm lãnh trấn thủ Quảng Nam. Từ đó, Nguyễn
Hoàng ra sức chiêu hiền đãi sĩ, mộ phu khai
hoang vùng đất mới này. Với những chính sách đối
nội và đối ngoại khôn khéo, chúa Tiên-Nguyễn
Hoàng đã dần dần biến hai xứ Thuận-Quảng thành
một vùng đất trù phú. Ông được sử sách ca ngợi
như sau: “Đoan quận công vũ trị vài mươi
năm, chính trị khoan hòa, thường ra ân huệ, dùng
pháp luật công bằng, răn giới bản bộ, cấm trấp
kẻ hung dữ, dân hai trấn cảm mến ân đức, dời đổi
phong tục, chợ không hai giá, dân không ăn trộm,
cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại
quốc đều đến buôn bán, quân lệnh nghiêm túc, mọi
người đều cố gắng, vì vậy không ai dám dòm ngó,
dân trong xứ đều được an cư lạc nghiệp”
[7,115-116].
Kế nghiệp
chúa Tiên-Nguyễn Hoàng (1558-1613), các vị chúa
anh minh của họ Nguyễn như: chúa Sãi-Nguyễn Phúc
Nguyên (1613-1635); chúa Thượng- Nguyễn Phúc Lan
(1635-1648); chúa Hiền-Nguyễn Phúc Tần
(1648-1687) v.v…đã củng cố thế lực của mình, dần
dần tạo thành cục diện đối lập với thế lực họ
Trịnh ở phương Bắc mà lịch sử gọi là Đàng
Ngoài-Đàng Trong. Với chủ trương nhất quán
“Nam tiến, Bắc cự”, các chúa Nguyễn đã khiến
cho họ Trịnh phải lấy sông Gianh phân chia biên
giới, đồng thời lãnh thổ Đàng Trong được mở rộng
vào vùng đất phương Nam.
So với
Đàng Ngoài, tình hình chính trị xã hội tại Đàng
Trong tương đối ổn định hơn. Ở vùng đất mới này,
với chính sách khoan dung của Chúa Nguyễn nên xã
hội không có sự phân tầng rõ rệt như của họ
Trịnh. Khôn khéo trong chính trị đã đưa lại một
kết quả khả quan là lãnh thổ vẫn mở rộng vào
miền Nam nhưng không có một cuộc xung đột nào
đáng kể.
Với chính
sách mở rộng, thông thoáng trong ngoại giao, các
chúa Nguyễn đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để
các thương gia nước ngoài vào Đàng Trong buôn
bán. Thương cảng Hội An là một trong những trung
tâm kinh tế thương mại phồn thịnh thời bấy giờ.
Nơi đây, có thể được coi là con đường tơ lụa
trên biển nối liền Đại Việt với các nước trong
khu vực cũng như các nước Tây Ban Nha, Bồ Đào
Nha v.v…. Sự phồn thịnh ấy được ghi nhận như
sau: “Nhân dân đông đúc, cá tôm rau quả tập
hợp mua bán suốt ngày. Thuốc Bắc hay các món
hàng khác, tìm mua ở Thuận Hóa không có thì
người mua vào mua ở đây” [12,154].
Về nông
nghiệp, các chúa Nguyễn cho quan lại đứng ra
chiêu mộ dân đi khai khẩn cũng như dùng quân đội
đồn trú để khai hoang. Điều này đã đem lại một
kết quả rất khả quan: “Chỉ trong vòng một
thời gian ngắn, các chúa Nguyễn đã biến nhiều
vùng đất hoang thành ruộng đồng tươi tốt, thành
xóm làng trù mật và từng bước nâng cao mức sống
của nhân dân” [22, 286].
Lúc bấy
giờ tại Trung Quốc, bộ tộc Mãn Châu từ phương
Bắc tràn xuống đánh chiếm Trung Nguyên, lật đổ
nhà Minh lập ra vương triều Mãn Thanh. Các cựu
thần nhà Minh không chịu thần phục nhà Thanh nên
đã bỏ nước ra đi. Mảnh đất Đại Việt trở thành
điểm đến của những người Trung Hoa vong quốc.
Tại Đàng Ngoài, các chúa Trịnh dè dặt trong vấn
đề cho người Hoa cư ngụ. Trái lại, các chúa
Nguyễn ở Đàng Trong ưu đãi để người Hoa định cư
và cho họ thành lập từng làng sống theo cộng
đồng. Vì thế, các làng Minh Hương được thành lập
nhiều nơi ở Huế, Hội An, Gia Định v.v…và những
người Hoa đã góp phần không nhỏ trong việc phát
triển kinh tế cũng như mở mang bờ cõi. Cụ thể
như các tướng nhà Minh là Trần Thượng Xuyên,
Trần An Bình lập ra Cù Lao Phố, Dương Ngạn Địch,
Hoàng Tiến lập ra Mỹ Tho Đại Phố, Mạc Cửu cũng
đã đem đất Hà Tiên sáp nhập vô lãnh thổ Đại Việt
dưới sự cai trị của chúa Nguyễn.
Tóm lại,
từ khi mới thành lập cho đến những năm cuối thế
kỷ XVII, tình hình chính trị Đàng Trong tương
đối ổn định, lãnh thổ mở rộng về phương Nam,
kinh tế phát triển, đời sống người dân được cải
thiện. Sự ổn định đó đã tạo điều kiện thuận lợi
cho các tôn giáo phát triển, trong đó Phật giáo
đóng vai trò quan trọng trong đời sống tư tưởng
của người dân ở Đàng Trong.
1.1.3
Thái Độ Của Các Chúa Nguyễn Đối Với Phật Giáo.
Kể từ khi
vào trấn nhậm hai xứ Thuận-Quảng, chúa
Tiên-Nguyễn Hoàng cũng như các Chúa về sau đều
là những người sùng mộ Phật pháp. Dưới sự hộ trì
của nhà Chúa, Phật giáo tại Đàng Trong phát
triển rất mạnh. Tuy rằng các Chúa không lấy Phật
giáo làm quốc giáo như thời Lý-Trần, nhưng lại
lấy Phật giáo làm chỗ dựa cho chính sách an dân
trị quốc. Vì sao các chúa Nguyễn lại để tâm đến
việc phát triển Phật giáo? Sau đây là hai nhận
xét của các nhà nghiên cứu sử sẽ cho chúng ta
thấy được phần nào của vấn đề: “Quá trình tạo
lập xứ Đàng Trong cũng là quá trình liên tục Tổ
chức khẩn hoang. Lực lượng khẩn hoang đông đảo
nhất chính là những người nông dân nghèo khổ. Họ
không có điều kiện để cho con em tới trường, và
với số ít ỏi có điều kiện thì đạo thánh hiền mà
Nho gia rất mực tôn kính, trong họ cũng đã dần
dần bớt thiêng. Họ tìm đến những gì phù hợp hơn,
thiết thực vỗ về và an ủi họ khi đối mặt với
vùng đất mới bao la và dữ dội. Họ cần trước hết
là những bài học về đức làm người, cụ thể, giản
dị và sinh động chứ không phải là (bởi vì cũng
khó có thể là) sự nghiền ngẫm thiên kinh vạn
quyển với vô số những triết lý cao siêu. Và,
Phật giáo với đội ngũ các nhà tu hành giàu nhiệt
huyết nhập thế một cách tích cực đã mau chóng
đáp ứng được điều này. Ở đâu có đất mới được mở
ra là ở đó có chùa mới dựng. Tiếng chuông chùa
và tiếng tụng kinh chẳng khác gì lời ru êm ái
đối với một xã hội lầm lũi” [21, 156]. Nhà
sử học Li Tana cũng nhận xét như sau: “Trong
tình hình mới này, các nhà lãnh đạo họ Nguyễn
cảm thấy cần phải đưa ra một cái gì đó khác với
tín ngưỡng của người Chăm để củng cố các di dân
người Việt về mặt tinh thần và tâm lý. Không thể
sử dụng Khổng giáo vì những khẳng định cơ bản
của Khổng giáo trực tiếp mâu thuẫn với vị trí
của họ Nguyễn bị coi là một chế độ ly khai và
nổi loạn đối với triều đình. Tuy nhiên, họ
Nguyễn lại không dám đi quá xa và không dám tìm
ra một giải pháp hoàn toàn khác biệt với truyền
thống của người Việt ở phía bắc. Trong những
hoàn cảnh đó, Phật giáo Đại Thừa đã cung cấp một
giải pháp đáp ứng nhu cầu của họ Nguyễn. Phật
giáo, một mặt đẩy mạnh bản sắc dân tộc của người
Việt và mặt khác làm lắng động các mối lo âu của
người di dân mà không đặt lại vấn đề về tính hợp
pháp của những người cai trị” [13, 194].
Trở lại
bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, chúng ta thấy
những điều mà các chúa Nguyễn làm là hoàn toàn
phù hợp với tình hình chính trị thực tại. Trong
giai đoạn đầu của cuộc Nam tiến, những người
Việt di cư sống lẫn lộn với người Chăm. Lúc ấy,
văn hóa của người Chăm vẫn còn nhiều và đôi lúc
ảnh hưởng đến người Việt. Vì lẽ đó, người Việt
phải tìm về với cội nguồn văn hóa của mình để an
ủi trong những lúc xa xứ. Lúc này, nếu đem Nho
giáo ra áp dụng thì không phù hợp. Bởi lẽ, những
người dân Việt đã chán ngán với tư tưởng hủ lậu
của Nho giáo đã gò bó họ bao đời. Vả lại Nho
giáo hoàn toàn xa lạ với văn hóa người Chăm nên
dễ đưa đến sự xung đột tôn giáo, ảnh hưởng đến
sự cai trị của nhà Chúa. Chỉ có Phật giáo Đại
Thừa mới thỏa mãn được nhu cầu của cả hai bên.
Vì Phật giáo Đại Thừa với tư tưởng khoáng đạt
không chấp nê sự chính thống hay phản nghịch của
chúa Nguyễn. Các nhà sư Phật giáo với sự nhập
thế tích cực đã đem lại niềm an lạc trong đời
sống tinh thần của những người Việt di cư. Thêm
vào đó, Phật giáo Đại Thừa có những sự tương
đồng trong việc thờ tự của người Chăm nên họ
không cảm thấy bỡ ngỡ khi tiếp cận. Qua đây, ta
thấy các chúa Nguyễn dựa vào Phật giáo để trị
nước là hoàn toàn phù hợp.
Xuất phát
từ nguyên nhân trên, cộng với tâm đạo của mình,
các chúa Nguyễn đã trùng kiến và xây dựng rất
nhiều chùa trên hai xứ Thuận-Quảng. Năm 1601,
chúa Tiên-Nguyễn Hoàng cho trùng tu chùa Thiên
Mụ [1,72-73]. Năm 1602, khi đi lạc thành chùa
Thiên Mụ, Chúa lại phát nguyện trùng tu chùa
Sùng Hóa. Năm 1607, Chúa lập chùa Bửu Châu ở
Quảng Nam. Năm 1609, Chúa lập chùa Kính Thiên ở
xã Thuận Trạch, huyện Lệ Thủy-Quảng Bình.
Năm 1665,
chúa Hiền-Nguyễn Phúc Tần trùng tu chùa Thiên
Mụ. Năm 1667, Chúa lại cho xây dựng chùa Vĩnh
Hòa ở cửa biển Tư Dung. Tại lễ khánh thành này,
Chúa cho mở đại hội Du Già bảy ngày đêm để tạ ơn
Tam Bảo và siêu độ vong linh.
Năm 1688,
chúa Nghĩa-Nguyễn Phúc Trăn cho trùng tu chùa
Vĩnh Hòa. Đồng thời, Chúa còn nhờ Thiền sư
Nguyên Thiều về Trung Hoa thỉnh cao tăng, pháp
tượng, pháp khí sang hoằng hóa tại Đàng Trong.
Năm 1694,
Quốc chúa-Nguyễn Phúc Chu thỉnh Hòa thượng Thạch
Liêm sang mở đàn truyền giới tại chùa Thiền Lâm
-Thuận Hóa. Quốc Chúa quy y với Ngài Thạch Liêm,
được đặt pháp danh Hưng Long, hiệu là Thiên Túng
đạo nhân.
Qua những
sự kiện trên, chúng ta có thể thấy rằng: Ngoài
chủ trương vận dụng tư tưởng Phật giáo để trị
nước, các Chúa Nguyễn thực sự là những người
sùng mộ đạo Phật, tôn trọng chư tăng, làm chùa,
tạo tượng, đúc chuông v.v… Chính vì lẽ đó mà các
Thiền sư từ Trung Hoa đã đến Đàng Trong hoằng
hóa. Phật giáo nơi đây thật sự hưng thịnh, đặc
biệt là dòng Lâm Tế phát triển rất mạnh tại vùng
đất mới này.
1.1.4
Phật Giáo Quảng Nam Trước Khi Thiền Phái Chúc
Thánh Ra Đời.
Người
Việt đi đến đâu là lập chùa thờ Phật đến đó. Đây
là một vấn đề tất yếu, bởi lẽ tinh thần Phật
giáo đã thấm sâu vào trong tư tưởng tình cảm của
mỗi người dân Việt. Vì thế, kể từ khi đất Quảng
Nam thành lập, chúng ta đã thấy có bóng dáng của
những ngôi chùa cũng như các vị Thiền sư hoằng
hóa tại nơi đây.
Những
ngôi chùa đầu tiên tại xứ Quảng mà chúng ta được
biết là chùa Bửu Châu ở Trà Kiệu do chúa
Tiên-Nguyễn Hoàng xây dựng vào năm 1607. Ngôi
chùa thứ hai là chùa Chiên Đàn tại Hội An do
cộng đồng người Hoa xây dựng vào những năm 1653.
Chùa này còn có những tên gọi khác như là chùa
Di Đà, Quan Âm hay Minh Hương Phật Tự.
Trong
những năm đầu giữa thế kỷ XVII, Thiền sư Minh
Châu-Hương Hải tu học và hoằng hóa tại Quảng
Nam. Tổ tiên Ngài vốn người Nghệ An, theo phò
chúa Tiên vào định cư tại phủ Thăng Hoa. Ngài
sinh năm 1628, thuở thiếu thời là nho sinh nơi
cửa Khổng sân Trình, thi đậu ra làm quan tới
chức tri phủ huyện Triệu Phong. Năm 1652, Ngài
đến thọ giáo với Tổ Lục Hồ-Viên Cảnh và Đại
Thâm-Viên Khoan, để rồi 3 năm sau xuất gia với
pháp danh Minh Châu-Hương Hải và hiệu là Huyền
Cơ -Thiện Giác. Sau đó, Ngài dong thuyền ra đảo
Tiêm Bút La (Cù Lao Chàm ngày nay) lập thảo am
tu hành. Đạo phong của Ngài đã ảnh hưởng đến mọi
tầng lớp nhân dân và được Chúa Nguyễn mời ra
Thuận Hóa hoằng pháp: “Một thời gian sau ông
đóng thuyền đến Cù Lao Chàm ở ngoài cửa biển Hội
An, dựng ba gian am nhỏ để ở và tu trì. Thời
gian Thiền sư ở đảo này khoảng chục năm. Tiếng
tăm tu Thiền của ông được nhiều người biết đến.
Trong số đó có Hoa Lễ Hầu là Tổng thái giám. Hoa
Lễ Hầu tâu với Dũng Quốc Công Nguyễn Phúc Tần
(1649 - 1687) về Thiền sư và Thiền sư được quốc
công mời về trụ trì viện Thiền tịnh ở núi Qui
Kỉnh. Mẹ của Nguyễn Phúc Tần và 3 con là Phúc
Mỹ, Hiệp Đức và Phúc Tộ đều đến quy y cùng đông
đảo quan lính.” [15, 14-15]
Rất tiếc
là một thời gian sau, chúa Hiền-Nguyễn Phúc Tần
nghe theo lời sàm tấu sinh tâm nghi kỵ Ngài. Vì
thế, vào tháng 3 năm 1682, Ngài cùng với 50 đồ
chúng đóng thuyền vượt biển ra Đàng Ngoài. Đây
cũng là một Tổn thất lớn cho Phật giáo Quảng Nam
lúc bấy giờ.
Vào những
năm 1677, Thiền sư Hưng Liên-Quả Hoằng là đệ tử
của Ngài Thạch Liêm Hòa thượng từ Trung Quốc
sang Đàng Trong giáo hóa. Ngài lập đạo tràng tại
chùa Tam Thai núi Ngũ Hành tỉnh Quảng Nam và
được Quốc chúa -Nguyễn Phúc Chu phong làm Quốc
sư.
Năm 1695,
sau khi giới đàn tại chùa Thiền Lâm-Thuận Hóa
viên mãn, Ngài Thạch Liêm vào Hội An để đón
thuyền về lại Quảng Đông. Trong thời gian ngụ
lại Hội An, Ngài đã mở đàn truyền giới cho
khoảng 300 Tăng tục tại nơi đây: “ Tăng tục
luôn luôn đến xin truyền giới, nhơn nghĩ còn
mười ngày nữa mới khai thuyền, bọn chúng đã
thành tâm khẩn cầu, tiếc chi khó nhọc hai ba
ngày, không thành tựu cho vẹn toàn công đức; bèn
truyền rao xa gần, hẹn đến ngày mồng 7 truyền
giới. Đến ngày kỳ hẹn, tứ chúng giới tử hơn 300
người, đến thụ giới hoàn tất. Khiến quốc sư và
Hậu đường cấp phát điệp - văn cho họ, mặc khác
tư giấy trình Quốc vương xin dùng ấn để đóng
kiềm điệp văn.”[12, 158]
Điểm qua
một vài dữ kiện, ta thấy lúc bấy giờ Phật giáo
đã hình thành tại Quảng Nam. Tuy rằng các Ngài
Minh Châu, Thạch Liêm giáo hóa nơi đây không lâu
nhưng đạo phong của các Ngài ảnh hưởng rất lớn
đến mọi tầng lớp nhân dân xứ Quảng. Giới đàn vào
ngày mồng 7 tháng 7 năm 1695 tại chùa Di Đà-Hội
An đủ để chứng minh rằng người dân xứ Quảng thời
bấy giờ phần lớn hướng tâm đến đạo Phật và khát
khao tìm cầu giáo pháp. Vì các vị Thiền sư đến
rồi đi nên những sinh hoạt Phật giáo tại đây
thường gián đoạn không được ổn định. Mãi đến khi
Thiền sư Minh Hải-Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc
Thánh và dòng Thiền Chúc Thánh thành lập thì
Phật giáo Quảng Nam mới ổn định và phát triển
mạnh.
1.2 THIỀN
SƯ MINH HẢI VÀ SỰ KHAI SÁNG THIỀN PHÁI CHÚC
THÁNH.
1.2.1 Sự
Ra Đời Của Thiền Phái Chúc Thánh.
Như trên
đã trình bày, trước khi Thiền phái Chúc Thánh ra
đời, tại Quảng Nam đã có nhiều vị Thiền sư danh
tiếng giáo hóa như: Minh Châu, Thạch Liêm, Hưng
Liên v.v. Tuy nhiên, các Ngài chỉ trụ một thời
gian rồi ra đi. Ngài Minh Châu cùng với 50 đệ tử
vượt biển ra Đàng Ngoài vào tháng 3 năm Nhâm
Tuất (1682). Có thể sợ bị liên lụy nên không một
vị đệ tử nào của Ngài ở lại Quảng Nam tiếp tục
giáo hóa. Vì thế, sự ảnh hưởng của Ngài mau
chóng phôi phai theo năm tháng.
Kế đến là
hai thầy trò Ngài Thạch Liêm và Hưng Liên của
dòng Tào Động. Ngài Thạch Liêm qua chỉ một thời
gian ngắn, còn Ngài Hưng Liên được phong Quốc sư
và trụ tại chùa Tam Thai. Tuy nhiên, sau khi
Ngài Thạch Liêm về nước và Ngài Hưng Liên viên
tịch thì sự truyền thừa của dòng Tào Động tại
Quảng Nam xem như không còn. Điều này có hai lý
do giải thích như sau:
- Thứ
nhất, Ngài Thạch Liêm và Hưng Liên đều là những
vị tài giỏi nhưng tầm ảnh hưởng của các Ngài chỉ
trong nội vi nhà Chúa và giới lãnh đạo mà thôi,
chứ chưa có sự ảnh hưởng lan rộng trong lòng
quần chúng Phật tử.
- Thứ
hai, sau khi Ngài Hưng Liên viên tịch, các đệ tử
của Ngài không có ai có đủ khả năng kế thừa Ngài
để phát triển tông phong. Vì lẽ đó, dòng Tào
Động cũng mai một và không còn dấu tích trên đất
Quảng.
Sự hoằng
hóa của các Thiền sư kể trên đã làm cho người
dân đất Quảng thấm nhuần Phật pháp. Nhưng các
Ngài tùy duyên giáo hóa, chợt đến chợt đi khiến
cho người con Phật nơi đây cảm thấy hụt hẫn,
thiếu thốn. Chính vì lẽ đó, khi Thiền sư Minh
Hải quyết định trụ lại Quảng Nam hoằng hóa đã
đáp ứng được niềm khát khao mong đợi của đa số
tín đồ quần chúng. Nếu như các Ngài Minh Châu,
Thạch Liêm là người có công xây dựng nền móng
thì Ngài Minh Hải là người có công kiến tạo tòa
nhà Phật giáo Quảng Nam.
1.2.2.
Lược Sử Thiền Sư Minh Hải.
Thiền sư
Minh Hải (1670-1746) thế danh Lương Thế Ân, sinh
vào giờ Tuất, ngày 28 tháng 6 năm Canh Tuất
(1670) tại làng Thiệu An, huyện Đồng An, phủ
Tuyền Châu, tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc. Thân
phụ là Lương Đôn Hậu, thân mẫu là Trần Thục
Thận, Ngài là người con thứ hai trong gia đình.
Năm Mậu
Ngọ (1678), khi vừa lên 9 tuổi, Ngài được song
thân đưa đến xuất gia tại chùa Báo Tư thuộc tỉnh
Phước Kiến. Sau một thời gian dài tu học, khi
tuổi tròn 20, Ngài được đăng đàn thọ cụ túc giới
với pháp danh Minh Hải, tự Đắc Trí, hiệu Pháp
Bảo. Như vậy, Ngài nối pháp đời 34 dòng Lâm Tế
truyền theo bài kệ của Ngài Vạn Phong-Thời Ủy.
Năm Ất
Hợi (1695), Ngài cùng với các Ngài Minh Vật-Nhất
Tri, Minh Hoằng-Tử Dung, Minh Lượng-Thành Đẳng
v.v… trong hội đồng thập sư cùng Hòa thượng
Thạch Liêm theo lời thỉnh cầu của chúa Nguyễn
Phúc Chu sang An Nam truyền giới. Phái đoàn
xuống thuyền tại bến Hoàng phố và cập bến Hội An
vào ngày 28 tháng Giêng năm Ất Hợi (1695). Sau
đó, đoàn ra Thuận Hóa, được chúa Nguyễn Phúc Chu
đón tiếp trọng thể và thỉnh về ngụ tại chùa
Thiền Lâm.
Ngày mồng
1 tháng 4 năm Ất Hợi (1695), giới đàn khai mở do
Ngài Thạch Liêm làm Đàn đầu Hòa thượng. Giới
đàn truyền các giới Sa Di, Tỳ Kheo và Bồ Tát cho
1400 giới tử trong đó có cả các vương hầu khanh
tướng. Đặc biệt, chúa Nguyễn Phúc Chu được
truyền riêng một đàn giới và Hòa thượng đàn đầu
đã ban cho pháp danh là Hưng Long.
Sau khi
giới đàn thành tựu, ngày 28 tháng 6 năm Ất Hợi
(1695), phái đoàn trở vào lại Hội An để chờ
thuyền về nước. Tại Hội An, đoàn trú ở chùa Di
Đà (sau này đổi tên là Chiên Đàn) và thể theo
lời thỉnh cầu của chư Tăng cũng như bổn đạo,
Ngài Thạch Liêm lập đàn truyền giới cho 300 giới
tử. Ngày 19, đoàn rời Hội An ra Cù Lao Chàm, lên
thuyền chờ gió. Ngày 30 thuyền nhổ neo nhưng bị
nghịch gió nên phải trở lại Hội An. Ngày 12
tháng 10, chúa Nguyễn mời Ngài Thạch Liêm trở
lại Phú Xuân lập đàn cúng Phật truyền giới một
lần nữa tại chùa Thiên Mụ. Sau đó đến ngày 24
tháng 6 năm Bính Tý (1696) Ngài Thạch Liêm cùng
với phái đoàn trở về Quảng Đông và không qua
nữa.
Sau khi
Ngài Thạch Liêm về nước, một số vị trong phái
đoàn ở lại An Nam trác tích khai sơn hoằng hóa
như Ngài Minh Hoằng-Tử Dung khai sơn chùa Ấn
Tông ở Thuận Hoá, Ngài Minh Lượng-Thành đẳng
khai sơn chùa Vạn Đức-Hội An và Ngài Minh
Hải-Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc Thánh tại Cẩm
Phô-Hội An.
Từ những
ngày đầu tiên ở nơi mảnh đất đầy cát bụi này,
Ngài chỉ lập một thảo am để tịnh tu phạm hạnh.
Dần dần hương giới đức của Ngài lan tỏa khắp mọi
nơi, ảnh hưởng đạo đức đến người dân phố Hội và
các vùng phụ cận nên đồ chúng ngày một quy
ngưỡng tham học.
Sau gần
50 năm sang An Nam hoằng hóa, đến ngày mồng 7
tháng 11 năm Bính Dần (1746), Ngài gọi đồ chúng
đến dặn dò và đọc kệ phú chúc:
原
浮
法
界
空
真
如
無
性
相
若
了
悟
如
此
眾
生
與
佛
同
Âm:
Nguyên phù pháp
giới không
Chơn Như vô tánh
tướng
Nhược liễu ngộ
như thử
Chúng sanh dữ Phật đồng
[18, 19]
Sau khi
phú chúc, Ngài thâu thần thị tịch, trụ thế 77
tuổi. Đồ chúng cung thỉnh nhục thân Ngài nhập
bảo tháp trong khuôn viên chùa Chúc Thánh.
1.2.3
Thiền Sư Minh Hải Với Việc Khai Sáng Thiền Phái
Chúc Thánh.
Sau khi
quyết định trụ lại Hội An để hoằng hóa, Tổ Minh
Hải khai sơn chùa Chúc Thánh. Để việc truyền
thừa có quy củ dài lâu, Ngài xuất kệ truyền pháp
như sau:
|
傳 法 名 偈
明 實 法 全 彰
印 真 如 是 同
祝 聖 壽 天 久
祈 國 祚 地 長 |
傳 法 字 偈
得 正 律 為 宗
祖 道 解 行 通
覺 花 菩 提 樹
充 滿 人 天 中 |
|
Truyền
pháp danh kệ:
Minh
thiệt pháp toàn chương
Ấn chơn
như thị đồng
Chúc
thánh thọ thiên cửu
Kỳ quốc
tộ địa trường |
Truyền
pháp tự kệ:
Đắc chánh
luật vi tông
Tổ đạo
giải hạnh thông
Giác hoa
bồ đề thọ
Sung mãn
nhân thiên trung. |
Bài kệ
này bao gồm bốn mươi chữ và được chia ra làm hai
phần. Phần đầu gồm 4 câu đầu được dùng để đặt
Pháp danh và phần còn lại để đặt Pháp tự. Ngài
Minh Hải có pháp danh chữ Minh và Pháp tự là chữ
Đắc. Tiếp đến, hàng đệ tử của Ngài theo thứ tự
có pháp danh chữ Thiệt và pháp tự chữ Chánh như
: Thiệt Diệu-Chánh Hiền, Thiệt Dinh-Chánh Hiển,
Thiệt Đăng-Chánh Trí v.v. Chính sự truyền thừa
có thứ tự như vậy nên chúng ta dễ dàng nhận ra
vị Thiền sư nào là đệ tử Ngài Minh Hải. Bởi vì,
cùng thời với Ngài, có rất nhiều vị Thiền sư
thuộc đời 34 dòng Lâm Tế với pháp danh chữ Minh
theo bài kệ của Ngài Vạn Phong-Thời Ủy hoằng hóa
tại Đàng Trong. Các vị này cũng cho đệ tử pháp
danh chữ Thiệt theo câu kệ: “Hành Siêu Minh
Thiệt Tế”. Nếu không có pháp tự bằng chữ
Chánh đứng đầu thì chúng ta khó phân biệt vị nào
thọ giáo với Thiền sư Minh Hải. Đây là điểm đặc
biệt của dòng Chúc Thánh mà các Thiền phái khác
không có.
Thiền
phái Chúc Thánh là lấy theo tên ngôi chùa Chúc
Thánh do Tổ sư Minh Hải khai sơn. Từ đây, sữa
Pháp lại được khơi dòng tại đất Quảng, lan tỏa
khắp các tỉnh thành, góp phần rất lớn trong sự
nghiệp hoằng truyền chánh pháp.
Về nội
dung của bài kệ, chúng ta có thể hiểu như sau: Ở
bài kệ truyền Pháp danh, hai câu đầu là nói về
chân đế. Nghĩa là các pháp xưa nay vốn dĩ sáng
tỏ tròn đầy, cùng với thể tánh Chơn như không có
sự sai biệt. Hai câu sau nói về tục đế, cầu cho
Thánh quân sống lâu muôn tuổi và vận nước được
dài lâu muôn thuở. Ở bài kệ truyền Pháp tự, hai
câu đầu mang ý nghĩa lấy giới luật làm tông, nên
tuyên dương giới luật. Ban đầu, Tổ Minh Hải đặt
là “Đắc chánh luật vi tông”, nhưng về
sau, vì kỵ tên húy của vua Thiệu Trị [18, 17]
nên có một số vị trại chữ Tông lại chữ Tuyên (宣)
như Chương Tư-Tuyên Văn; Chương Quảng-Tuyên Châu
v.v.. hoặc chữ Tôn (尊)
như Chương Đạo- Tôn Tùng; Chương Lý- Tôn Sư
v.v…. Còn nội dung của hai câu cuối nói đến sự
chứng ngộ của hành giả.
Về ý
nghĩa của hai chữ Chúc Thánh, chúng ta có thể
hiểu hai nghĩa như sau:
- Đứng về
mặt Đạo pháp, là một người trưởng tử của Như
Lai, chư Tổ thuở quá khứ cũng như các thế hệ
chúng ta ngày nay, ai ai cũng muốn cho chánh
pháp cửu trụ thế gian để lợi lạc nhân quần xã
hội. Ở đây, Thiền sư Minh Hải lấy hai chữ Chúc
Thánh để đặt tên cho ngôi chùa cũng có ý nghĩa
như vậy. Thánh ở đây có nghĩa là Thánh đạo, Ngài
muốn Thánh giáo luôn luôn tồn tại ở thế giới
Ta-bà này để xoa dịu những nỗi thống khổ của
kiếp nhân sinh.
- Đứng về
mặt Dân tộc, mỗi người chúng ta ai cũng muốn có
những vị vua anh minh cai trị đất nước, đem lại
cảnh hòa bình an lạc cho muôn dân. Vì thế, Chúc
Thánh ở đây còn có nghĩa là Chúc cho Thánh quân
thọ lâu muôn tuổi để trị vì thiên hạ. Bởi lẽ,
giai đoạn Tổ Minh Hải qua Đàng Trong là giai
đoạn các chúa Nguyễn anh minh đang trị vì và
Đàng Trong đang thời hưng thịnh. Đồng thời, các
chúa Nguyễn là những vị nhiệt tâm hộ trì Phật
giáo. Họ chính là những vị hộ pháp đắc lực cho
chư tăng trong sự nghiệp truyền bá chánh pháp.
Qua ý
nghĩa hai chữ Chúc Thánh, chúng ta thấy được nơi
đây có sự kết hợp hai yếu tố Đạo pháp và Dân
tộc. Với hai chữ ngắn gọn, Thiền sư Minh Hải đã
gói trọn, dung hòa được cả hai yếu tố quan trọng
này. Đồng thời, qua bài kệ truyền pháp, chúng ta
thấy được sở ngộ, sở tu của Tổ Minh Hải. Từ sự
chứng ngộ siêu xuất đó, ngày nay Thiền phái Chúc
Thánh phát triển khắp các tỉnh miền Trung và Nam
Việt Nam và sang tận Âu - Mỹ.
1.2.4.
Một Vài Nghi Vấn Về Hành Trạng Của Tổ Minh Hải.
Cho đến
nay, hành trạng của Tổ sư Minh Hải còn có nhiều
vấn đề vẫn chưa được làm sáng tỏ. Chẳng hạn Tổ
xuất gia với Tổ sư nào tại chùa Báo Tư-Trung
Quốc? Đây là vấn đề quan trọng mà vẫn còn nằm
trong bức màn bí mật của thời gian. Ở đây, người
viết xin được làm rõ một vài nghi vấn về hành
trạng của Tổ mà một số sách sử đã ghi nhầm. Tựu
trung xoay quanh ba nội dung chính sau:
a. Tổ
Minh Hải có phải là đệ tử của Tổ sư Nguyên
Thiều?
Theo Lịch
sử Phật giáo Đàng Trong, Nguyễn Hiền Đức cho
rằng Tổ Minh Hải là đệ tử Ngài Nguyên Thiều? [5,
8] Nhận định ấy có chỗ chưa thỏa đáng. Chúng ta
xác định lại vấn đề qua niên đại của Tổ Nguyên
Thiều và Tổ Minh Hải.
Tổ sư
Nguyên Thiều (1648-1728) sinh ngày 18 tháng 5
năm Mậu Tý (1648) tại huyện Trình Hương, phủ
Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Ngài
xuất gia năm 19 tuổi tại chùa Báo Tư với Thiền
sư Bổn Khao-Khoáng Viên. Năm Đinh Tỵ (1677),
Ngài theo thuyền buôn sang phủ Quy Ninh lập chùa
Thập Tháp. Còn Tổ sư Minh Hải, Ngài sinh ngày 28
tháng 6 năm Canh Tuất (1670), tại làng Thiệu An,
huyện Đồng An, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phước Kiến.
Ngài xuất gia tại chùa Báo Tư khi lên 9 tuổi,
tức là năm Mậu Ngọ (1678). Như vậy, khi Ngài
Minh Hải mới nhập chúng tu học thì Ngài Nguyên
Thiều đã sang An Nam rồi. Vì thế, ta có thể
khẳng định Ngài Minh Hải không phải là đệ tử của
Tổ Nguyên Thiều, mà có thể Ngài là sư điệt gọi
Tổ Nguyên Thiều bằng sư bá hoặc sư thúc.
b. Có
phải Tổ sư Minh Hải khai sơn chùa Thiên Ấn -
Quảng Ngãi?
Cũng theo
Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, Nguyễn Hiền Đức
cho rằng: vào những năm 1694-1695, Tổ Nguyên
Thiều và Tổ Minh Hải có liên quan đến vụ nổi
loạn của Linh Vương và Quảng Phú tại Bình Định
và Quảng Nam. Vì thế, Tổ Minh Hải vào núi Thiên
Ấn đổi pháp danh là Pháp Hóa và khai sơn chùa
Thiên Ấn; còn Tổ Nguyên Thiều vào Đồng Nai đổi
pháp danh là Siêu Bạch và khai sơn chùa Kim Cang
[5,19]. Điều này có đúng không? Chúng ta có thể
phân tích qua các yếu tố sau:
- Những
năm 1694-1695, Tổ sư Minh Hải mới qua An Nam thì
làm sao dính líu đến vụ nổi loạn của Linh Vương.
Lại nữa, nếu cả hai vị Tổ sư đều dính líu đến
Linh Vương thì làm sao Ngài Nguyên Thiều được
chúa Nguyễn Phước Trú sắc ban thụy hiệu là
“Hạnh đoan Thiền sư”? Và liệu rằng, hàng đệ
tử của Tổ Minh Hải như Thiệt Diệu, Thiệt Dinh,
Thiệt Thọ v.v.. có thể yên tâm tu học duy trì
Chúc Thánh trong khi bổn sư đi lánh nạn? Chúng
ta biết rằng, dưới chế độ phong kiến, một người
làm loạn, ba họ bị tru di. Huống gì người thầy
làm loạn mà học trò sống an ổn như vậy sao? Vì
thế, đây là lý do thứ nhất chứng minh Ngài Minh
Hải không phải là Tổ khai sơn Thiên Ấn.
- Theo bi
ký chùa Thiên Ấn, Thiền sư khai sơn thuộc đời 35
dòng Lâm Tế, có pháp danh Phật Bảo, tự là Pháp
Hóa, thế danh Lê Diệt. Trên bia mộ có ghi rõ “Tự
Lâm Tế Chánh Tông Tam Thập Ngũ Thế Pháp Hóa húy
thượng Phật hạ Bảo Hòa Thượng Chi Tháp” Như vậy,
vị Tổ sư khai sơn chùa Thiên Ấn thuộc đời 35
truyền theo bài kệ của Ngài Đạo Mân-Mộc Trần.
Còn vấn đề Thiền sư Thiệt Úy- Khánh Vân, đệ tử
Tổ Minh Hải kế thế Thiền sư Phật Bảo-Pháp Hóa
trụ trì chùa Thiên Ấn cũng là lẽ tự nhiên. Thiền
sư Thiệt Úy sau khi thọ giáo với Tổ Minh Hải ở
Chúc Thánh thì về quê nhà tại Mộ Đức lập chùa
Liên Tôn. Đến khi Ngài Phật Bảo viên tịch, vì
không có đệ tử kế thừa nên Ngài Thiệt Úy lên kế
vị trụ trì Thiên Ấn. Từ đó, chùa Thiên Ấn truyền
thừa theo dòng Chúc Thánh và trở thành Tổ đình
của chi phái Chúc Thánh tại tỉnh Quảng Ngãi.
Qua hai
luận giải trên, chúng ta đi đến kết luận rằng:
Tổ sư Minh Hải-Pháp Bảo và Tổ sư Phật Bảo-Pháp
Hóa là hai và Tổ Minh Hải không phải là người
khai sơn Tổ đình Thiên Ấn như xưa nay mọi người
ngộ nhận.
c. Về
hai bài kệ truyền pháp của Thiền sư Minh Hải:
Ngoài bài
kệ truyền pháp tại Quảng Nam, chư tăng môn phái
Chúc Thánh tại Bình Định cũng có một bài kệ
truyền pháp như sau:
|
傳 法 名 偈
明 實 法 全 彰
印 真 如 是 同
萬 有 唯 一 體
觀 了 心 境 空
戒 香 成 聖 果
覺 海 湧 蓮 花
信 進 生 福 慧
行 智 解 圓 通
影 月 清 中 水
雲 飛 日 去 來
達 悟 微 妙 性
弘 開 祖 道 長 |
傳 法 字 偈
得 正 律 為 宗
祖 道 解 行 通
覺 花 圓 境 智
充 滿 利 人 天
恆 沙 諸 法 界
濟 度 等 含 生
周 圓 體 相 用
觀 照 剎 塵 中
去 來 當 一 念
能 所 豈 非 他
心 境 誰 邊 取
真 望 總 皆 如 |
|
Truyền Pháp
Danh Kệ:
Minh
Thiệt Pháp Toàn Chương
Ấn Chơn
Như Thị Đồng
Vạn Hữu
Duy Nhất Thể
Quán Liễu
Tâm Cảnh Không
Giới
Hương Thành Thánh Quả
Giác Hải
Dõng Liên Hoa
Tín Tấn
Sanh Phước Huệ
Hạnh Trí
Giải Viên Thông
Ảnh
Nguyệt Thanh Trung Thủy
Vân Phi
Nhật Khứ Lai
Đạt Ngộ
Vi Diệu Tánh
Hoằng
Khai Tổ Đạo Trường. |
Truyền Pháp
Tự Kệ:
Đắc Chánh
Luật Vi Tông
Tổ Đạo
Giải Hạnh Thông
Giác Hoa
Viên Cảnh Trí
Sung Mãn
Lợi Nhân Thiên
Hằng Sa
Chư Pháp Giới
Tế Độ
Đẳng Hàm Sanh
Châu Viên
Thể Tướng Dụng
Quán
Chiếu Sát Trần Trung
Khứ Lai
Đương Nhất Niệm
Năng Sở
Khởi Phi Tha
Tâm Cảnh
Thùy Biên Thủ
Chơn Vọng
Tổng Giai Như. |
Nguyên
nhân xuất hiện của bài kệ thứ hai này như sau:
vào năm 1967, có một học sinh gốc người Hoa đến
nộp đơn học tại trường trung học Bồ Đề Nguyên
Thiều (Bình Định). Qua lý lịch thì được biết học
sinh này có quan hệ thân tộc với Tổ Nguyên
Thiều. Theo sự yêu cầu của thầy giám học Thích
Đổng Quán, gia đình em này cung cấp một số tư
liệu về gia phả Tổ Nguyên Thiều, trong đó có bài
kệ này.[19,34] Từ đó, chư Tăng dòng Chúc Thánh
tại Bình Định sau chữ Đồng thì truyền xuống chữ
Vạn chứ không truyền xuống chữ Chúc. Như vậy,
giữa hai bài kệ thì bài nào đích thực là của Tổ
Minh Hải phú chúc?
Xét nội
dung hai bài kệ truyền pháp thì cũng không có gì
sai lệch. Nội dung của bài kệ tại Bình Định nói
về vạn pháp đều quy về một thể, đó chính là tánh
không. Khi nào quán chiếu thấy rõ tâm không,
pháp không thì đạt thành chánh quả. Ở đây, nhấn
mạnh đến trí tuệ Bát Nhã, nói đến bổn tánh vắng
lặng trong mỗi chúng sanh, chỉ vì vọng niệm nên
trôi lăn trong sanh tử luân hồi. Giống như mặt
trăng bị mây mờ che khuất, khi nào mây tan thì
mặt trăng lại lồng lộng tỏa sáng. Tuy nhiên, cả
hai bài kệ đều lấy giới luật làm tông, tuyên
dương giới luật. Đây chính là điều thiết yếu để
đoạn trừ vô minh, bước vào dòng Thánh.
Xét về
mặt lịch sử truyền thừa, bài kệ tại Tổ đình Chúc
Thánh-Quảng Nam được truyền bá rộng rãi hơn. Còn
bài kệ tại Bình Định mới phát hiện và được áp
dụng truyền thừa trong phạm vi chư Tăng môn phái
Chúc Thánh tại Bình Định. Như vậy, chúng ta có
thể giả định rằng: lúc đầu Tổ sư Minh Hải làm
bài kệ như Hòa thượng Thích Đổng Quán tìm được
sau này, nhưng khi truyền pháp, để phù hợp với
tên ngôi chùa mình khai sơn cũng như chúc cho
minh chúa sống lâu để hộ pháp an dân nên Ngài
mới đổi lại như vậy. Đây cũng là phương tiện
quyền xảo trong việc hoằng pháp lợi sanh. Nhưng
có một điều chúng ta thắc mắc: tại sao bài kệ
của Tổ Minh Hải không nằm trong gia phả của dòng
họ Ngài mà lại nằm trong gia phả Tổ Nguyên
Thiều? Mong rằng, về sau có những công trình
nghiên cứu làm sáng tỏ vấn đề này.
Như vậy,
cả hai bài kệ đều do Thiền sư Minh Hải lưu xuất
cả. Tuy nhiên, về sự truyền thừa thì bài kệ tại
Tổ đình Chúc Thánh-Hội An có thời gian lâu dài
và tầm ảnh hưởng rộng rãi hơn bài kệ tại Bình
Định. Dù chư Tăng các thế hệ về sau được đặt
pháp danh với chữ Chúc, chữ Thánh hay chữ Vạn,
chữ Hữu cũng đều thuộc pháp phái Chúc Thánh-Minh
Hải Tổ sư. Tất cả đều một tâm nguyện phụng sự
Đạo pháp và Dân tộc theo như tinh thần của chư
Tổ từ xưa đến nay.
Tóm lại,
kể từ khi Tổ Minh Hải khai sơn, xuất kệ truyền
thừa, tính đến giữa và cuối thế kỷ XVIII, Thiền
phái Lâm Tế Chúc Thánh đã có sự hình thành rõ
nét. Sự hình thành này là nền tảng vững chắc để
dòng Chúc Thánh phát triển mạnh về sau, góp phần
then chốt cho sự phát triển của Phật giáo xứ
Quảng.
Chương 2
QUÁ TRÌNH PHÁT
TRIỂN CỦA
THIỀN PHÁI CHÚC
THÁNH TẠI QUẢNG NAM
2.1.
NGUYÊN NHÂN PHÁT TRIỂN.
Kể từ
ngày Tổ sư Minh Hải khơi nguồn đạo mạch, đến
cuối thế kỷ XVIII các chùa tại tỉnh Quảng Nam
đều do các Thiền sư dòng Chúc Thánh đảm nhiệm
giáo hóa. Không những thế, tầm ảnh hưởng của
dòng Chúc Thánh nhanh chóng lan rộng vào các
tỉnh phía Nam như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú
Yên, Gia Định.
Với thời
gian chưa tới 100 năm mà Thiền phái Chúc Thánh
phát triển nhanh chóng như vậy? Chúng ta có thể
lý giải vấn đề này qua một số nguyên nhân sau:
- Gần 50
năm hoằng hóa, đạo phong của Tổ Minh Hải đã thấm
nhuần, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần
của người dân xứ Quảng. Quan trọng hơn, Ngài đã
đào tạo một thế hệ kế thừa xứng đáng, đủ khả
năng kế nghiệp Ngài xiển dương đạo pháp và phát
triển tông môn. Đời thứ 2 của dòng Chúc Thánh có
các Ngài Thiệt Dinh, Thiệt Diệu, Thiệt Thọ,
Thiệt Đạo, Thiệt Mẫn, Thiệt Gia, Thiệt Lương
v.v.. hoằng hóa tại Quảng Nam; Thiệt Úy, Thiệt
Uyên hoằng hóa tại Quảng Ngãi; Thiệt Đăng, Thiệt
Thuận hoằng hóa tại Bình Định. Đến thế hệ thứ 3
có các Ngài Pháp Liêm, Pháp Chuyên, Pháp Ấn,
Pháp Diễn, Pháp Tịnh, Pháp Tràng v.v…đều nhiệt
tâm truyền bá chánh pháp làm cho Phật giáo Quảng
Nam thêm hưng thịnh, đồng thời tông môn Chúc
Thánh nhanh chóng phát triển.
- Các
Thiền sư dòng Chúc Thánh đã đáp ứng được nhu cầu
tín ngưỡng của nhân dân nên dòng Thiền này nhanh
chóng phát triển. Như chúng ta biết, Hội An là
chiếc nôi khai sinh của dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
Lúc bấy giờ Hội An là một thương cảng trù phú
nên có nhiều người ngoại quốc đến sinh sống làm
ăn, trong đó cộng đồng người Hoa chiếm đại đa
số. Với một lực lượng kế thừa hùng hậu, các
Thiền sư dòng Chúc Thánh đã đáp ứng được cả hai
cộng đồng người Việt lẫn người Hoa. Các Ngài
Thiệt Diệu, Thiệt Thọ, Thiệt Mẫn là người Hoa
nên ngụ tại Chúc Thánh đáp ứng nhu cầu tín
ngưỡng người Hoa. Còn Thiền sư Thiệt Dinh ra
khai sơn Phước Lâm với sự hỗ trợ của các Ngài
Thiệt Đạo, Thiệt Gia đã thu hút sự quy ngưỡng
cũng như đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của
người Việt. Như vậy, trong hàng đệ tử xuất gia
của Tổ Minh Hải có cả người Hoa và người Việt.
Các vị người Hoa ở Chúc Thánh và các vị người
Việt ở Phước Lâm tạo thành hai trung tâm hoằng
pháp đầu tiên của dòng Chúc Thánh.
- Với tư
tưởng phóng khoáng của tông Lâm Tế, cộng với nếp
sống giản dị, thanh bần, các Thiền sư dòng Chúc
Thánh gần gũi với nhân dân nên dễ dàng tiếp cận
đi sâu vào lòng quần chúng. Thời bấy giờ, dân
Quảng Nam phần lớn là dân di cư từ Bắc vào. Từ
lâu họ đã sống trong tư tưởng gò bó của Nho giáo
nên rất chán ngán. Nay có một trào lưu mới với
những tư tưởng phóng khoáng, không câu nệ tiểu
tiết nên họ nhanh chóng tiếp nhận. Sự giản dị
trong cách sống, chân tình trong giao tiếp của
các Thiền sư nơi đất Quảng tạo nên sự gần gũi
thân mật dễ dàng hòa nhập cùng cộng đồng.
Với những
nguyên nhân trên, dòng Thiền Chúc Thánh nhanh
chóng phát triển tại Quảng Nam. Không những thế,
Thiền phái này còn phát triển và ảnh hưởng đến
sự sinh hoạt của các tỉnh phụ cận.
2.2. HOẠT
ĐỘNG CỦA THIỀN PHÁI CHÚC THÁNH.
2.2.1.
Phương Pháp Tu Tập Và Tôn Chỉ Hành Đạo.
a. Phương
pháp tu tập.
Sau Lục
Tổ Huệ Năng, Thiền tông Trung Quốc phát triển
mạnh và hình thành năm Thiền phái. Danh xưng và
tính cách tu tập của năm Thiền phái được tóm gọn
qua bài kệ sau:
Lâm Tế thống
khoái
Quy Ngưỡng cẩn
nghiêm
Tào Động tế mật
|