|
Ảnh
Hưởng Phật Giáo Tới Dân Tộc Việt Nam
Theo
http://chungta.net/
Từ khi du nhập Việt Nam đến nay, Phật giáo đã tồn tại và gắn liền
với lịch sử dân tộc, Phật giáo ngấm sâu vào tư duy và trở thành một bộ phận
văn hoá, nếp sống của người Việt. Vậy Phật giáo ảnh hưởng đến con người Việt
Nam như thế nào?
1. Đặc điểm tư duy người
Việt Nam ta trong truyền thống là hướng nội
Hướng ngoại là thiên về nghiên cứu thế giới vật chất bên ngoài.
Hướng nội là thiên về nghiên cứu thế giới tinh thần bên trong. Thiền tông đã
đề xuất chủ trương “dĩ tâm truyền tâm”. Do đạo Phật quan niệm vạn vật đồng
nhất thể, nên bản thể vũ trụ cũng tiềm ẩn trong mỗi con người. Bởi vậy khi
làm cho bản thể trong mỗi cá nhân hoà đồng với bản thể vũ trụ, thì ta và thế
giới hoà làm một. Muốn đạt được điều đó thì phải có trí tuệ hay Phật học gọi
là Bát Nhã. Nhưng để đi đến cái đó, mỗi người phải tự khai mở tâm mình, “hãy
tự thắp đuốc lên mà đi”, mà bước đầu là phải có sự biến đổi về mặt đạo đức
theo hướng thiện. Điều này hợp với người Việt với truyền thống nghiêng về
trau dồi tâm tính, đạo đức luân lý hơn là học hỏi trau dồi tri thức hiện đại.
Điểm này khiến người Việt trong cuộc sống đề cao cái TÂM, lối sống
tình cảm. Cách suy nghĩ và lối sống mang nặng màu sắc tình cảm, một mặt giúp
nhân dân ta trong những thời hoạn nạn, thiên tai, địch hoạ... nhưng nó cũng
làm hạn chế sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật.
2. Đặc điểm tư duy người
Việt là chú ý nhiều tới các quan hệ
Cùng một sự vật, hiện tượng chúng ta thường hoặc quan tâm đến cấu
trúc, bản chất hoặc nghiên cứu những mối liên hệ, quan hệ với những sự vật,
hiện tượng khác. Đương nhiên phương Đông chú trọng mối quan hệ nhiều hơn.
Xuất phát từ “dịch”, “vô thường”, người phương Đông cho rằng không có gì là
trường tồn, đứng yên mà vạn vật luôn vận động, biến đổi không ngừng. Vì vạn
vật sinh sinh, hoá hoá, sắc sắc, không không nên cái ta thấy được chỉ là
những mối liên hệ thấp thoáng giữa các trạng thái của sự vật trong quan hệ
với những sự vật khác.
Để chỉ những mối liên hệ, Phật giáo có luật nhân quả. Nhân quả là
chỉ mối quan hệ phổ biến mọi sự vật, hiện tượng. Không có cái tôi độc lập,
không có thế giới tác rời “cái tôi”, không có “cuộc sống” tách rời - tất cả
những cái đó là những tương tác chặt chẽ và chỉ bị tách rời nhau trong tưởng
tượng. Do vậy mà người phương Đông, Việt Nam theo đạo Phật thường để ý nhiều
đến mối quan hệ, chủ yếu cảm tính, đạo đức nên nhiều nhìn nhận sai lệch, có
tính chủ quan duy ý trí. Do đó, cuộc sống người Việt Nam thường chú ý nhiều
đến quan hệ họ hàng, làng xóm, xã hội sao cho khôn khéo, tế nhị.
3.
Chiều sâu ảnh hưởng của Phật giáo
Tư duy người Việt có thêm một loạt khái niệm lấy từ Phật giáo.
Những khái niệm đó góp phần làm tăng những khái niệm mang tính triết lý của
người Việt, khiến tư duy người Việt mang tính khái quát hơn, trừu tượng hơn.
Ngoài ra, ảnh hưởng của Phật giáo lên cách tư duy còn thể hiện ở quan niệm
về sự phát triển của vạn vật qua bốn giai đoạn: sinh (ra đời, xuất
hiện) , trụ (tồn tại, hiện hữu), dị (phát triển, tiến hoá,
biến đổi) và diệt (tử, chết, biến mất), còn ở con người đó là sinh,
lão, bệnh, tử. Đó là sự phát triển tự nhiên, tất yếu của mọi sự vật, hiện
tượng, mọi sự sống.
Các khái niệm “vô thường”, “vô ngã” cũng ảnh hưởng nhiều tới hệ tư
tưởng phong kiến Việt Nam. Theo quan niệm nhà Phật thì mọi sự vật, hiện
tượng là sự kết hợp động của những yếu tố, động (Pháp), bởi vậy chúng luôn
vận động không ngừng. Phật giáo đóng góp một cách nhìn nhận thế giới động,
phù hợp với sự phát triển sự vật.
Áp dụng triệt để luật vô thường vào việc phân tích con người, Phật
giáo cho rằng người là kết hợp động của năm yếu tố - ngũ uẩn, bởi vậy con
người không có cái gọi là bản ngã mà là vô ngã. Cách nhìn này đã khiến con
người sống một cách không sợ và vị tha.
Khi quan sát thế giới bên ngoài, Phật giáo đã nhìn ra một mối quan
hệ phổ biến, cơ bản giữa các sự vật, hiện tượng – đó là mối quan hệ nhân –
duyên - quả. Thuyết này là sự phản ánh khái quát rút ra từ thế giới hiện
tượng, đặc biệt là khi xem xét sự phát triển của tự nhiên. Cách nhận thức
hợp lý này đã cung cấp cho người Việt một cách suy nghĩ mang tính chất nhân
quả để nhìn con người, cuộc sống, vạn vật: “nhân nào, quả nấy”,”gieo gió,
gặp bão”, “ở hiền gặp lành”....
Các học giả đều cho rằng chưa có một học thuyết, một tôn giáo nào
phân tích thế giới nội tâm, trong đó có tư duy sâu sắc như Phật giáo. Theo
Phật học thì tư duy, ý thức của con người tựa như một dòng sông của ý niệm
tuôn chảy không ngừng. Trong một sátna (thời gian búng ngón tay), tâm ý ta
đã trải qua 960 lần chuyển niệm, trong thời gian một ngày đêm, nó trải qua
mười ba ức triệu niệm. Dưới dòng sông tuôn trào này, ở nơi sâu thẳm vô hình
đâu đó là A-lại-da thức (tàng thức) – nơi tàng trử mọi mầm móng của vũ trụ.
Tuy khó hình dung nhưng Phật giáo đã cung cấp cho ta một cái nhìn động về tư
duy, ý thức. Phật giáo chỉ cho ta rằng muốn có tư duy, suy nghĩ đúng thì
điều kiện cần là phải tập trung tư tưởng.
Tư tưởng, tư duy, ý thức của con người giống như ngọn đèn. Nếu cứ
để bình thường thì toả sáng bốn phương, nhưng nếu biết tập trung toàn bộ ánh
sáng vào một điểm, hội tụ chúng lại, thì điểm này trở nên rất sáng và mạnh.
Vai trò của Thiền đối với tư duy cũng giống như việc tập trung ánh sáng vậy.
Nó là một phương pháp khoa học.
Phật giáo còn dạy muốn suy nghĩ thật khách quan cần phải có cái tâm
bình tĩnh, tỉnh táo. Tâm nhảy nhót như khỉ vượn, bị thiêu đốt bởi tham lam,
hận thù, si mê, tâm đứng ở nhị kiến, thích và không thích, yêu và ghét, thì
nhận thức không thể nào khách quan được. Tâm như vậy giống như mặt nước hồ
qua trận cuồng phong làm nổi sóng, vẩn đục và không thể nào thấy được những
viên cuội dưới đáy sông.
Muốn cho tâm được yên tĩnh, tỉnh táo thì việc đầu tiên là nên nghĩ
và làm những điều thiện. Đạo Phật hướng người Việt tới việc suy nghĩ về làm
những điều thiện, làm lành lánh giữ. Trong các loại nghiệp của con người có
3 loại nghiệp quan trọng nhất là thân, khẩu, ý. Trong đó Phật giáo coi
nghiệp ý (về tư duy, suy nghĩ) là quan trọng nhất. “Tổng vệ sinh”, “làm sạch”
tư duy vừa là công việc khẩn thiết vừa là công việc thường xuyên từng giờ,
từng phút với mỗi Phật tử. Tư tưởng từ bi bác ái, chủ trương khuyến thiện
trừ ác, hỷ xả, cứu khổ, cứu nạn là những tư tưởng lôi cuốn đông đảo người
Việt và trở thành lòng thương người, tính nhân đạo của họ. Chính vì quan tâm
cứu vớt con người trước bất công đau khổ nên người Việt đã tiếp thu và nhiệt
tình ủng hộ đạo Phật.
Đạo Phật cũng đóng góp một khía cạnh phương pháp nhận thức quan
trọng – đó là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, tinh thần và tự nhiên hay
tâm và vật. Một mặt thì tâm và vật không tách rời nhau. Không có vật thì
cũng chẳng có tâm. Ngược lại, không có tâm thì vật như thế nào ta cũng không
biết. Sở dĩ có vật là vật do ta đã quẳng cái tâm vào đó rồi.
Mặt khác, không chỉ có vật chất, giới tự nhiên, vật luôn vận động
mà ý thức, tinh thần, tâm cũng luôn vận động. Hai cái luôn vận động như vậy,
cậy làm thế nào để nắm bắt, nhận thức được cái thứ hai. Đứng trước vấn đề
này Phật giáo đã đưa ra giải pháp như đã trình bày là tập trung tư tưởng,
giữa cho tâm yên tĩnh, tỉnh táo. Như vậy ở đây Phật giáo dùng cái tĩnh trong
sáng được tập trung cao độ để nắm bắt cái động, “dĩ biến bất biến ứng vạn
biến”. Đây là một vấn đề khá lý thú so với nhận thức thông thường.
Theo:
http://chungta.net/
 |