|
LƯỢC SỬ
SẮC TỨ
THẮNG QUANG THIỀN TỰ
THÍCH THÔNG ĐẠT

Tổ Đình Thắng
Quang toạ lạc tại Núi Cây Xay, ấp Hy Tường, xã
Bồ Đề, huyện Bồng Sơn, phủ Quy Nhơn. Nay là thôn
Hy Tường, xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh
Bình Định. Do Tổ Minh Giác - Kỳ Phương khai sơn
và đặt tên từ thảo am do Tổ sư khuyết danh khai
sáng, tên phổ thông tại địa phương mọi người đều
biết là chùa Cây Xay.

Phật điện Chùa Thắng Quang
Cây Xay là tên
địa phương của một ngọn núi thấp cò hình dáng
tựa đầu rồng, ngày xưa núi này có nhiều cây xay,
thuộc dãy Kim Bồng–Tân Thạch là một nhánh của
Trường Sơn Đông đâm ra biển làm ranh giới tự
nhiên giữa hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi với
đèo Bến Đá (Bình Đê) có con đường xuyên Việt xe
cộ lưu thông suốt đêm ngày.
“Thạch Tân có
đèo Bình Đê,
Có núi Đầu Rồng
mặt ngoảnh vào Nam…”
Núi Đầu rồng
được người dân địa phương truyền tụng là linh
địa, nơi đây có mạch nước từ lòng núi chảy ra
quanh năm không lúc nào khô cạn, núi này cao
chừng hơn 100m được cấu tạo bởi đá gan gà và đất
gan gà khá tốt cho trồng trọt nên cảnh trí xanh
tươi cả bốn mùa đồng thời có mẹ con cọp trắng (bạch
hổ) sinh sống. Ngày xưa, trước mặt chùa có một
hồ nước có tên là Long Thiệt (Hồ Lưỡi Rồng) do
nhiều mạch nước từ lòng núi đổ vào tạo thành hồ,
nay hồ không còn, chỉ còn lại mạch nước chảy
trước chùa.
Chuyện xưa kể
rằng: Khoảng nhà Hậu Lê đời Vua Lê Hy Tông, niên
hiệu Chánh Hoà (1692) thuộc thời Chúa Nguyễn
Phúc Chu có một nhà sư đã lên núi Cây Xay và ở
lại trong hang đá tu hành, hàng phục bạch hổ,
cứu giúp nhân dân nên được dân chúng trọng vọng.
Nhân dân địa phương cùng nhau lập thảo am để nhà
sư có nơi tu tập và cứu nhân độ thế.
Sau một thời gian
khoảng hơn 20 năm, khi mẹ con bạch hổ đã chết,
nhà sư cũng ra đi và không để lại dấu tích gì
ngoài lời huyền ký: “Nơi này là linh địa, vì
tâm nguyện độ chúng sanh bần đạo đến nơi này,
nay công hạnh vừa tạm xong, bần đạo lại trở về
núi cũ, sau này sẽ có một vị Cao Tăng đến hoằng
hoá ở đây thì nơi này sẽ trở thành một Tòng Lâm
quy củ, bần đạo khuyên mọi người phải chăm lo
tu tập gieo nhân lành, tô bồi phước đức chờ ngày
đó…”. Đó là những gì còn lưu lại cho đến
ngày nay về truyền thuyết của vị Tổ khai sáng
Thắng Quang Cổ Tự.
Từ truyền thuyết
trên nên vị Tổ sư ẩn danh được suy tôn là Tổ
khai sáng Tổ Đình Thắng Quang.
Liên hệ với những
ngôi cổ tự được hình thành trong khoảng thời
gian này như: Chùa Linh Phong (chùa Ông Núi) ở
Phù Cát, do thiền sư Tịnh Giác khai sáng 1702.
Ngài dựng một thảo am bằng cỏ tranh, sống một
mình trên núi, thỉnh thoảng mới xuống thôn xóm
chữa bệnh cho dân làng. Thấy ông dùng vỏ cây làm
áo quần, dân trong vùng gọi ông là Mộc Y Sơn Ông.
Năm 1733, chúa Nguyễn Phước Trú lệnh cho quan
địa phương dựng chùa lại bằng ngói, đổi tên là
Linh Phong Thiền Tự. Chùa Thiên Ấn ở Quảng Ngãi
do Thiền sư Pháp Hóa khai sơn năm 1694 với
truyền thuyết về giếng nước của chùa:
“Ông thầy đào
giếng trên non,
Đến khi có nước
không còn tăm hơi…”
Từ những liên hệ
trên chúng ta nhận thấy trong giai đoạn này non
sông đang trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc,
dân tình vô cùng cực khổ, lầm than, thiên hạ
muôn dân luôn hướng về một cuộc sống yên bình
với lòng khát khao mong đợi. Hơn ai hết chư vị
Tổ đức là người được thấm nhuần giáo lý từ bi,
trí tuệ, tuỳ duyên bất biến của Đức Phật các
Ngài đã phương tiện “An tâm” mọi người bằng
những hình ảnh vô cùng gần gũi, thiết thực và
bàng bạc trong thiên hạ và đương nhiên những
hình ảnh đó được quần chúng chấp nhận như một
phần quan trọng trong đời sống tâm linh của mình.

Tôn tượng Đức Phật Thích Ca tại Chùa Thắng Quang
Với quá trình tồn
tại và phát triển gần 300 năm, Tổ Đình Thắng
Quang có nhiều tự điền, tự khí… Tuy nhiên, Tổ
Đình Thắng Quang lại ở vào một trong những địa
phương chịu ảnh hưởng lớn bởi các cuộc giao
tranh của nhiều giai đoạn ác liệt của tỉnh Bình
Định nên tự khí bị thất thoát khá nhiều cộng với
nhu cầu trùng tu tái thiết chùa nên ruộng đất
của chùa đã được phát mãi để lấy tiền xây dựng
chùa cũng như những thay đổi của thời cuộc, do
vậy ruộng đất của nhà chùa còn lại không nhiều.
Hiện tại pháp khí của chùa chỉ còn tượng Đức Bổn
Sư bằng đồng, tượng ngài A Nan, Ca Diếp bằng gỗ,
Đại Hồng Chung, chuông gia trì, mõ, liễn, long
vị… và một số ít pháp khí khác.
Trong
vườn chùa hiện có tháp vọng Tổ Khai sáng, tháp
Tổ Hoằng Hoá, tháp Tổ Bảo Tạng, v.v. Hang Bạch
hổ bị bom đạn làm hư sập hoàn toàn, hồ Long
Thiệt bị san lấp trong quá trình trùng tu tái
thiết chùa.
Tổ Đình Thắng
Quang được Tổ Kỳ Phương khai sơn và truyền thừa
3 đời theo Pháp kệ của Tổ Vạn Phong: “Tổ đạo
giới định tông, Phương quảng chứng viên thông,
Hạnh siêu minh thiệt tế, Liễu đạt ngộ chơn không…”
Đến đời Tổ Bảo Tạng lại được truyền thừa theo
Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh của Tổ Minh Hải,
với pháp kệ: “Minh thiệt pháp toàn chương, Ấn
chơn như thị đồng, Vạn hữu duy nhất thể, Quán
liễu tâm cảnh không…”
TỔ KHAI SÁNG 1
Như đã được nêu ở
trên, Lão thiền sư ẩn danh đến núi cây xay lập
thảo am tu trì vào khoảng nhà Hậu Lê đời Vua Lê
Hy Tông, niên hiệu Chánh Hoà (1692) sau đó Ngài
ẩn cư nơi nào không rõ, do vậy được suy tôn là
Tổ khai sáng Tổ đình Thắng Quang. Ngài tịch năm
nào và ở đâu chưa tìm được, hiện tháp vọng ngài
được tôn trí phía tây chùa.

Tháp vọng Tổ Khai Sơn Tổ Đình Thắng Quang
TỔ KHAI SƠN 2 -
Ngài
MINH GIÁC - KỲ PHƯƠNG (1717-1744)
Thắng Quang tự
được Tổ Minh Giác - Kỳ Phương khai sơn đặt tên
năm Đinh Dậu (1717) được Chư sơn của hai phủ
Hoài Nhơn và Tư Nghĩa chứng minh. Ngài thuộc
dòng Lâm Tế đời thứ 34. Sau khi công việc tại
chùa Thắng Quang được ổn định, Ngài giao phó cho
đệ tử là Thiệt Tâm -Thiện Trực ở lại quản lý còn
Ngài trở về chùa Thập Tháp.
Tổ Kỳ Phương viên
tịch ngày 16 tháng 3 Âm lịch (1744) tại chùa
Thập Tháp Di Đà. Tháp của Ngài hiện nay ở chùa
Thập Tháp Di Đà, ở chùa Thắng Quang chỉ có Long
vị thờ Ngài.
KẾ THỪA TRÚ TRÌ
3 -
Ngài THIỆT TÂM-THIỆN TRỰC (1744 – 1759)
Ngài thuộc dòng
Lâm Tế đời thứ 35. Ngài sinh năm 1694 tịch năm
1759 là đệ tử tổ Minh Giác-Kỳ Phương được Tổ
giao phó quản lý chùa Thắng Quang thay thầy khi
thầy về Thập Tháp. Sau khi thầy viên tịch thì
ngài chính thức giữ chức trú trì. Thời gian
Ngài giữ chức trú trì và quản lý chùa là 42 năm.
Trong thời gian Ngài trú trì từ một ngôi chùa
đơn sơ dần dần trở thành một Tùng lâm quy củ,
tăng chúng đông đảo, cơ sở được mở rộng, tượng
Đức Bổn Sư bằng đồng cũng được xem là tôn tạo
trong thời Ngài trú trì.
Năm 1759 cơ duyên
hoá đạo tròn đầy, Ngài giao lại cho đệ tử là Tế
Hội-Thiền Tôn rồi thu thần thị tịch vào ngày 24
tháng 4 tại chùa Thắng Quang, tháp của Ngài hiện
ở đâu đến nay chưa tìm thấy.
KẾ THỪA TRÚ TRÌ 4
- Ngài
TẾ HỘI-THIỀN TÔN (1759 - ?)
Hoà Thượng Tế
Hội-Thiền Tôn thuộc đời pháp thứ 36 dòng Lâm Tế
là đệ tử của Ngài Thiện Trực thay thế Hòa Thượng
bổn sư kế vị trú trì chùa Thắng Quang năm 1759
sau khi Bổn Sư viên tịch.
Thế danh và quê
quán của Hoà thượng ở đâu đến nay chưa tìm được.
Ngài Trú Trì vào thời nhà Tây Sơn kỳ thị giới
Tăng sĩ Phật giáo, hơn nữa chùa Thắng Quang lại
thuộc vùng thường xảy ra nhiều cuộc giao chiến
giữa hai quân Nguyễn; bởi vậy chùa rơi vào cảnh
“Tăng tàn Tự hoại”.
Ngài tịch vào
thời gian nào và ở đâu đến nay vẫn chưa minh
định, hoặc ngài đi đâu vẫn chưa rõ? Xem lại
lịch sử chùa Thắng Quang trong giai đoạn này
Môn phái không khỏi bồi hồi, xúc động, bởi đây
là thời kỳ khó khăn, tiêu điều nhất của chùa
Thắng Quang!
Dòng kệ “Tổ Định
Tuyết Phong” do Tổ Kỳ Phương truyền tại chùa
Thắng Quang đến đời Ngài thì dứt.
TỔ TRÙNG KIẾN 5
- HOÀ THƯỢNG TOÀN ĐỊNH-BẢO TẠNG (1822-1842)
Nếu giả sử ước
đoán Hoà thượng Tế Hội trú trì chùa Thắng Quang
từ năm 1759 đến năm 1880 thì cho đến khi Hoà
thượng Toàn Định-Bảo Tạng về thăm chùa vào năm
1822 thì chùa Thắng Quang trải qua khoảng thời
gian 22 năm chịu cảnh “Tăng tàn Tự hoại” như ghi
chép của ngài Bảo Tạng.
Hòa Thượng Bảo
Tạng thế danh là Ngô Văn Thuỵ, sinh ngày 6 tháng
10 năm 1789, người làng Hội An, Xã Ô Liêm, Huyện
Bồng Sơn, Phủ Quy Nhơn, Trấn Bình Định, nay là
thôn An Hội, xã Hoài Sơn, huỵên Hoài Nhơn, tỉnh
Bình Định.
Năm 14 tuổi
(1802) theo cha đến chùa Phước Lâm, Hội An,
tỉnh Quảng Nam. Đảnh lễ Hoà Thượng Minh Giác,
huý Pháp Kiên, tự Luật Oai xin xuất gia và được
Hoà Thượng Minh Giác thu nhận làm đệ tử với Pháp
danh là Toàn Định, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 37.
Vốn quê quán tại
làng Hội An nên sau 18 năm tu học tại chùa Phước
Lâm, Quảng Nam. Năm 1822 Hoà thượng trở về thăm
lại quê hương nhằm lúc chùa Thắng Quang chịu
cảnh hoang tàn nên Ngài được hương chức và bô
lão cung thỉnh ngài ở lại phục hồi chùa và ngài
đã nhận lời
Năm 1823, Ngài
trở về chùa Phước Lâm, trình bày hoàn cảnh của
chùa Thắng Quang cùng tâm nguyện của hương chức,
bô lão địa phương lên Bổn sư, được Bổn sư đồng ý
cho Ngài trở về chùa Thắng Quang, cũng trong năm
này ngài vận động nhân dân, bổn đạo gần xa tái
thiết chùa Thắng Quang.
Năm Minh Mạng thứ
17 (1836) Ngài cho xây dựng chánh điện, năm 1837
cất nhà Đông, năm 1840 tu bổ tháp vọng Tổ khai
sáng, năm 1841 cất nhà Tây. Toàn bộ cơ ngơi này
vẫn còn đến đời Hoà Thượng Khánh Quý trú trì
(1920-1943) mới thay dần bằng ngói nhưng vẫn giữ
nguyên nền móng cũ. Ngài là người có công lớn,
từ ngôi chùa đổ nát, Ngài đã xây dựng lại thành
Tòng Lâm có Tăng chúng đông đảo, đức độ của Ngài
toả sáng đến sơn môn nên năm 1837 Ngài được mời
làm Giáo Thọ A Xà Lê tại Giới đàn chùa Linh
Phong, huyện Phù Cát; năm 1838 Ngài được mời làm
Yết Ma A Xà Lê tại Giới đàn chùa Thiên Ấn -
Quảng Ngãi.
Ngài thị tịch vào
ngày 22 tháng 12 Âm Lịch năm 1842, thế thọ 54
tuổi 34 hạ lạp. Tháp của Ngài hiện ở trong vườn
chùa. Ngài là người đầu tiên truyền thừa dòng kệ
Chúc Thánh do Tổ Minh Hải - Pháp Bảo khai sáng ở
chùa Thắng Quang, đến nay đạo mạch vẫn tiếp nối
và phát triển.

Tháp Ngài Bảo Tạng
KẾ THỪA TRỤ TRÌ 6
- Ngài CHƯƠNG AN-QUẢNG KHÁNH (1842-1876)
Năm 1842 Thiền Sư
huý Chương An, tự Tôn Bổn, hiệu Quảng Khánh
thuộc đời pháp thứ 38, là đệ tử của Tổ Bảo Tạng,
kế vị Thầy làm Trú Trì chùa Thắng Quang sau khi
bổn sư viên tịch. Ngài là người được bổn sư
truyền trao diệu pháp, tiếp tục duy trì mạch đạo
tại chùa Thắng Quang. Trong thời gian trú trì, Ngài
mở rộng Tòng lâm tiếp tăng độ chúng, cũng trong
thời Ngài trú trì tăng chúng sơn môn các nơi về
tham học với Ngài rất đông. Đặc biệt năm 1843,
có sư Đạt Huệ ở chùa Kim Quang, Nam Vang (thủ đô
Campuchia) đã hỷ cúng về chùa Thắng Quang một
Đại hồng chung trọng lượng chừng 200kg, cao1m,
đường kính 0,60m đến nay vẫn còn.
Ngài có nhiều đệ
tử nổi danh như: Ấn Luân-Hoằng Hoá, Ấn Thị-Hoằng
Quán, Ấn Tụng-Hoằng Niệm, Ấn Diệu-Từ Nhẫn v.v.
Hơn 30 năm duy
trì đạo nghiệp, cơ duyên hoá độ đã mãn, Ngài thị
tịch năm 1876 và giao quyền kế vị Trú Trì cho đệ
tử là ngài Ấn Luân. Tháp Ngài chưa được xây dựng,
hiện tại chỉ là ngôi mộ bằng đất tọa lạc về
hướng đông chùa.
KẾ THỪA TRỤ TRÌ 7
- Ngài ẤN LUÂN-HOẰNG HOÁ (1876-1913)
Sau khi Bổn sư
viên tịch, năm 1876 sơn môn và đồ chúng suy cử
ngài Ấn Luân kế nhiệm Trú Trì chùa Thắng Quang.
Ngài Ấn Luân hiệu
Hoằng Hoá tự Cao Hoán họ Ngô quê ở Xã Hoài Sơn,
Huyện Hoài Nhơn. Noi gương Tổ Quy Sơn “dĩ nông
vi thiền” ngài chủ trương tự lực cánh sinh,
trong thời gian làm trú trì Ngài tạo mãi khá
nhiều ruộng đất cho chùa, nhờ đó kinh tế nhà
chùa khá chủ động và ổn định bảo đảm cho Tăng
chúng tu học và hoằng truyền chánh pháp nhiều
nơi. Chính nhờ vậy mà môn đồ Thắng Quang có mặt
ở nhiều nơi.
Ngài có nhiều đệ
tử đắc pháp như: Chơn Chất-Long Quang, Chơn
Mẫn-Khánh Phú, Chơn Dung-Phổ Nhuận, Chơn
Sự-Khánh Quý, Chơn Thường-Khánh Độ, Chơn
Thường-Quang Thiện, Chơn Điển-Khánh Trí, Chơn
Thành-Quang Huệ, Chơn Kinh-Pháp Hương, Chơn
Tích-Quang Nhơn, Chơn Khai-Phổ Huy…
Ngài tịch vào
ngày 12 tháng 7 âm lịch năm 1913, tháp của Ngài
tôn trí trên đồi cao trong vườn chùa về hướng
đông bắc .

Tháp Ngài Hoằng Hóa
KẾ THỪA TRÚ TRÌ 8
- Ngài CHƠN ĐIỂN-KHÁNH TRÍ (1913 – 1921)
Đệ tử Hoà Thượng
Hoằng Hoá là Hoà Thượng Chơn Điển-Khanh Trí, kế
nghiệp Bổn sư trú trì chùa Thắng Quang năm 1921.
Hoà Thượng Chơn
Điển-Khanh Trí tự Đạo Phê, Lâm Tế đời thứ 40.
Ngài thế danh là Ngô Điển, cha họ Ngô, mẹ họ Lâm,
người Xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn.
Ngài lãnh chức
trú trì được 8 năm thì bị bệnh mà tịch vào ngày
mùng 1 tháng 3 Âm lịch (năm 1921) tháp của ngài
ở đâu không rõ.
KẾ THỪA TRÚ TRÌ 9
- Ngài CHƠN THƯỜNG-KHÁNH ĐỘ (1921 – 1923)
Năm 1921 sau khi
Sư huynh tịch, môn đồ cử Hoà Thượng Chơn Thường,
tự Đạo Nhiên, hiệu Khánh Độ kế vị Trú Trì chùa
Thắng Quang.
Ngài thế danh Ngô
Đức Suất, người thôn Hy Tường, xã Hoài Sơn,
huyện Hoài Nhơn, theo thầy xuất gia từ nhỏ, được
bổn sư phó pháp năm 1920.
Sau 2 năm đảm
nhiệm chức trú trì ngài xin từ nhiệm và giao
trách nhiệm cho sư đệ là Hoà Thượng Chơn Sự –
Khánh Quý rồi di trú đi nơi khác. Tuy thời gian
ngài làm trú trì ngắn nhưng Tăng tín đồ theo học
với ngài rất đông.
Đến nay vẫn chưa
biết Ngài đi đâu, tịch năm nào, tháp mộ ở đâu?
KẾ THỪA TRÚ TRÌ
10 -
Ngài CHƠN SỰ-KHÁNH QUÝ (1923 – 1943)
Hoà Thượng Khánh
Quý là sư đệ của 2 vị trú trì tiền nhiệm được
môn phái cử trú trì chùa Thắng Quang năm 1923.
Hoà thượng húy
Chơn Sự, hiệu Khánh Qúy thế danh là Nguyễn Lý,
song thân là người địa phương thuộc xã Hoài Sơn
đồng thời là bổn đạo chùa Thắng Quang nhưng đã
mất sớm, được Tổ Hoằng Hoá đem về nuôi dưỡng rồi
thế độ cho xuất gia. Ngài được phó pháp cùng
với hai sư huynh vào năm 1920.
Trong đời ngài
làm trú trì chùa Thắng Quang được ban “Sắc Tứ
Thắng Quang Tự” vào năm Bảo Đại thứ 15 (1940),
giai đoạn này chùa phát triển khá toàn diện,
tăng chúng thường trú lên đến vài mươi người.
Năm 1930 ngài trùng tu chánh điện, lợp ngói.
Ngài có rất nhiều
đệ tử xuất gia như: Như Nghĩa – Tín Truyền, Như
Thông – Huyền Ngộ, Như Phẩm – Huyền Hoa, Như
Thiền – Huyền Ân, Như Kế – Huyền Đức, Như Quyền
– Giải Đạt, Như Lập – Giải Thành, Như Lễ – Tín
Trí, Như Như – Giải Học, Như Phục – Giải Điều,
Như Thuận – Tín Tấn, Như Thâm – Giải Nguyện.
Trong các đệ tử
trên, có bốn vị nổi tiếng danh đức, dày công
hoằng dương phật pháp:
* Như Thông –
Huyền Ngộ sau làm Trú Trì chùa Thắng Quang và
khai sơn chùa Quang Phước ở Thị trấn Tam Quan,
chùa Quang Đức ở Xã Hoài Châu.
* Như Phẩm –
Huyền Hoa, trùng kiến chùa Kim Tiên Cổ Tự, ở xã
Cát Khánh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, sau
đặt tên là chùa Khánh Sơn và khai sơn Chùa Viên
Quang ở huyện Phù Cát.
* Như Thiền –
Huyền An, khai sơn chùa Huệ Quang ở Thị Trấn
Bồng Sơn.
* Như Kế – Huyền
Đức khai sơn chùa Bửu Tạng, xã Hoài Hảo và chùa
Hoằng Hoá ở Thị trấn Tam Quan.
Hoà Thượng Khánh
Quý tịch vào ngày 14 tháng 9 Âm lịch (1943.

Đại Hồng Chung tại Chùa Thắng Quang
QUYỀN TRÚ TRÌ 11
- Ngài NHƯ NGHĨA-TÍN TRUYỀN (1943-1946)
Ngài Như Nghĩa,
tự Giải Lý, hiệu Tín Truyền đời pháp thứ 41, đệ
tử lớn của Hoà Thượng Khánh Quý. Trước khi Bổn
sư viên tịch, ngài đã có nhiều năm giữ chức Điển
toạ, sau khi Bổn sư viên tịch Ngài tạm quyền trú
trì.
Năm 1946 sơn môn
bầu cử Thiền sư Huyền Ngộ giữ chức trú trì nên
ngài Như Nghĩa bàn giao nhiệm vụ cho sư đệ và đi
hoằng hoá nơi khác.
KẾ THỪA TRÚ TRÌ
12 -
Ngài NHƯ THÔNG-HUYỀN NGỘ (1946-1969)
Năm 1946 ngài Như
Thông, tự Giải Minh, hiệu Huyền Ngộ thuộc đời
pháp thứ 41, đệ tử của Hoà Thượng Khánh Quý được
môn phái suy cử chức Trú Trì chùa Thắng Quang.
Ngài Huyền Ngộ
thế danh Ngô Đức Phán, sinh năm 1922 tại thôn An
Hội, xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn. Xuất gia năm
1928 tại chùa Thắng Quang với Hoà thượng Khánh
Qúy. Thọ đại giới năm 1941 tại chùa Tịnh Lâm,
Phù Cát.
Trong thời gian
hoằng pháp ngài đảm trách các chức vụ và phật sự
:
- Chủ tịch Hội
Phật Giáo Cứu Quốc Huyện Hoài Nhơn,
- Tuần chúng tăng
kiêm uỷ viên Hoằng Pháp Giáo Hội Tăng Gìa tỉnh
Bình Định.
- Hội Trưởng Hội
Phật Giáo Huyện Hoài Nhơn.
- Năm 1957 khởi
công trùng tu chùa Thắng Quang.
- Năm 1960 khai
sơn chùa Quang Phước tại Thị Trấn Tam Quan.
- Năm 1964 khai
sơn chùa Quang Đức ở Xã Hoài Châu.
Năm 1967 chùa
Thắng Quang ở vào vùng thường xảy ra chiến cuộc
nên ngài đã chuyển tăng chúng và pháp khí của
chùa Thắng Quang tạm thời xuống chùa Quang Phước.
Ngài có nhiều đệ tử xuất gia được ngài cho theo
học ở các Phật Học Viện tại Sài Gòn, Thập Tháp
v.v.
Cơ duyên hoá đạo
đã mãn, ngài thu thần thị tịch vào ngày mùng 4
tháng Giêng âm lịch năm Kỷ Dậu (1969) tại chùa
Quang Phước, thế thọ 47, 27 hạ lạp. Tháp Ngài
được xây phía tây trong khuôn viên chùa Quang
Phước.
MÔN PHÁI QUẢN LÝ
(1969-1976)
Giai đoạn 1966
đến 1975 là thời gian chiến tranh vô cùng khốc
liệt nhất là khu vực các vùng xa xôi của huyện
Hoài Nhơn nên chùa Thắng Quang hầu như vắng bóng
tăng sĩ. Chư tăng của tổ đình phải tạm lánh nạn
ở nhiều nơi trong và ngoài tỉnh, pháp khí của
chùa được di chuyển về chùa Quang Phước ở Tam
Quan.
Trước hoản cảnh
đó nên sau khi ngài Huyền Ngộ viên tịch, môn
phái chưa suy cử trú trì kế vị, do vậy chùa do
Môn Phái quản lý.
KẾ THỪA QUẢN LÝ
13 -
Thầy THỊ BẢN-HẠNH THIỆN (1976-nay)
Sau ngày thống
nhất đất nước, trước cảnh hư hại, đổ nát của
ngôi Tổ đình sau chiến tranh, nên năm 1975 tăng
ni, tín đồ cùng nhau chung sức sửa chữa lại chùa
Thắng Quang để có nơi sinh hoạt và tu học. Đến
năm 1976, trước tình cảnh chùa chưa có người kế
thừa nên môn phái cử thầy Thích Hạnh Thiện là đệ
tử của ngài Huyền Ngộ chịu trách nhiệm quản lý
và chăm lo phật sự tại tổ đình.
Chùa Thắng Quang
một ngôi Cổ tự, một di tích lịch sử văn hoá,
trải qua gần 300 năm hình thành và phát triển.
Từ những bước chân đầu tiên của Tổ khai sáng cho
đến ngày nay luôn là cội nguồn là cái nôi của
bao thế hệ Tăng ni, phật tử tại địa phương. Nói
đến Phật Giáo huyện Hoài Nhơn người ta nghĩ ngay
đến Tổ Đình Thắng Quang, bởi lẽ nhiều tăng ni
của Tổ Đình đã có những đóng góp tích cực cho
Giáo Hội, Đạo pháp và Dân tộc.
Trải qua bao
thăng trầm, có lúc hưng thịnh lắm khi suy vi, có
giai đoạn Môn phái, phật tử chùa Thắng Quang
phải đau xót ghi vào lịch sử chùa rằng: “Đây
là thời kỳ Tăng tàn Tự hoại”.
Nhìn lại quá
trình lịch sử chùa Thắng Quang, Tăng ni, phật tử
trong Môn phái càng trân trọng biết bao những
công lao to lớn của nhiều thế hệ đi trước đã bảo
vệ, duy trì và trao truyền lại cho thế hệ hôm
nay một di sản vô giá.
Ngày nay những
người con của chùa Thắng Quang dù sống ở nơi đâu
nhưng mỗi khi hồi tưởng về quê hương thì chùa
Cây Xay vẫn mãi mãi là chốn cội nguồn.
THÍCH THÔNG ĐẠT
=================================
Tài liệu tham
khảo:
-
Lược sử
chùa Bình Định.
-
Những ngôi
chùa tiêu biểu huyện Hoài Nhơn của Lộc Xuyên.
-
Lược sử
chùa Thập Tháp Di Đà.
-
Lược sử
chùa Linh Phong.
-
Lược sử
chùa Thiên Ấn.
-
Lược sử
chùa Phước Lâm (Quảng Nam)
-
Lược sử
chùa Thiên Hoà (Tuy Phước – Bình Định)
-
Lược sử
chùa Thiên Đức (Tuy Phước - Bình Định)


|