|
LỜI TỪ BIỆT THẦY
TT Thích Minh Dung
(đọc trong tang lễ
HT Thích Đồng Thiện – Tu viện Nguyên Thiều 2001)
Kính lạy giác linh Thầy,
Từ hôm hay tin Thầy lâm bịnh và tiếng nói yếu ớt
của Thầy qua điện thoại làm con rất lo. Nhiều
năm qua con cố gắng về thăm Thầy một lần nhưng
ước vọng đơn sơ ấy đã không toại nguyện. Hơn hai
mươi năm con xa Thầy, xa Tu viện, xa đồi núi
thương yêu thưở nào. Mai này nếu được về thăm
thì Thầy đã ra đi biền biệt.
Trong giờ phút linh thiêng u buồn của của núi
đồi Tu viện. Giờ phút đưa kim quan Thầy vào chốn
an nghỉ sau cùng. Từ nơi xa xôi, con xin vọng về
đảnh lễ giác linh Thầy với tất cả lòng biết ơn
và nhớ thương của người học trò xa nước.
Thầy kính yêu,
Hôm nay Thầy đã hóa kiếp thành những cụm mây
lành bay thong dong trong bầu trời. Nơi Thầy đến
Thầy mang bình an cho chỗ đến. Vì Thầy là nước
mát của biển khơi. Là lửa ấm của ngày đông. Là
đất lành của cây cỏ. Là viên bảo châu trong Phật
pháp. Năm mươi năm xây dựng tu viện Thầy đã thể
hiện trọn vẹn của một Bồ tát hóa thân. Từ một
đồi hoang làm chỗ dung thân cho người du thủ du
thực trở thành một tòng lâm tu học danh tiếng.
Thầy là một thành viên đoàn Tăng sĩ đầu tiên khai sơn phá thạch
để dựng nên tu viện ngày nay. Bao là công, bao
là sức, bao là tình
mà Thầy đã trải ra trong suốt năm thập niên qua.
Năm mươi năm của tu viện với bao thăng trầm theo
thăng trầm của đất nước lửa bom. Nhưng Thầy chưa
một lần từ bỏ dù trong tạm thời để ra đi lánh
nạn. Lúc thịnh, lúc suy, lúc tu viện trong hoang
tàn nghiệt ngã, đói khổ lầm than, Thầy vẫn dang
tay ra ôm tu viện vào lòng như mẹ ôm con. Thầy
ơi, làm sao núi đồi này không ảm đạm được
trong giờ phút tiễn Thầy ra đi lần cuối.
Kính lạy giác linh Thầy,
Con là người phước duyên được làm đệ tử Thầy từ
thuở còn thơ. Thầy là bậc đạo sư hiếm hoi trong
cuộc đời này. Thầy vĩ đại quá. Hồn Thầy sáng như
sao băng, vững chãi như dãy trường sơn. Thầy ơi,
trong cuộc sống xa quê, xa chùa, mỗi lần con
nghĩ tới Thầy con chỉ biết cúi đầu sụp lạy. Thầy
đã dạy cho con những bài học lớn trong cuộc đời.
Thầy không dạy bằng lời. Thầy không giảng từ
kinh. Thầy không lý luận với những kiến thức
trong cuộc sống. Thầy dạy bằng tấm lòng từ ái
thương Tăng chúng bao la. Từ độ con xa Thầy rồi
bỏ nước ra đi, con sống nhiều nơi, học hỏi nhiều
chỗ, nhưng con chưa thấy ai thương Tăng chúng
như Thầy. Thầy dạy chúng con bài học cống hiến
trọn vẹn sự sống này cho Đạo pháp bằng chính sự
sống và chết của Thầy. Con nhớ một lần Thầy đau
nặng năm 1977, Thầy gọi chúng Tăng lại căn dặn.
Thầy bảo nếu Thầy không qua khỏi cơn bịnh này
thì đừng báo cho ai biết, chôn Thầy dưới một gốc
cây nào đó vào ngày hôm sau. Đừng làm tháp miếu,
chỉ lấy vài miếng ván thô sơ đóng hòm mà thôi.
Thầy bảo Thầy chưa đóng góp được gì cho Đạo và
đừng để tu viện phải khổ nhọc trong tang lễ của
Thầy. Thầy sống vô cùng đơn giản trong khi sống
và chẳng muốn gì rườm rà cả khi ra đi. Bao giờ
chúng con mới hiểu thấu những bài học vĩ đại này
của bậc Thầy kính trọng của chúng con.
Thầy ơi,
Con gọi về chùa mình hằng tuần trong bao năm
qua, nhưng ít khi nào con dám tiếp chuyện với
Thầy. Vì mỗi lần nói chuyện với Thầy là giọng Thầy nghẹn ngào trong điện thoại. Thầy thường
hỏi con: "…Bên Mỹ, chùa Quang Thiện chỉ có mình
con, không thầy, không bạn, rồi ai giúp đỡ khi
con bị bịnh. Con đường hoằng pháp và cuộc sống
tu hành ở xứ người có nhiều khó khổ không con…"
Con luôn nói điều lạc quan để Thầy được an tâm,
duy chỉ có điều nơi đây, con thiếu Thầy, thiếu
huynh đệ thôi. Rồi giọng Thầy lịm đi trong điện
thoại viễn liên cho đến khi Thầy cúp máy. Hôm
nào hầu chuyện với Thầy qua điện thoại thì đêm
ấy biến thành đêm dài xa xứ của con. Vì xa quê
mới thấy quê mình đẹp nhất. Sống xa Thầy, con
thấy được ý nghĩa sư - đệ tình thâm. Sống lẻ loi,
con thấm thía sức mạnh hợp quần của Tăng chúng
một tòng lâm. Rồi hôm nay con thêm nỗi u buồn
của người đệ tử mất Thầy.
Kính lạy giác linh Thầy,
Chúng
con buồn vì mất Thầy nhưng chúng con không lùi
bước. Chúng con biến nước mắt thành nước mát để
thêm lực cho cỏ cây tu viện Nguyên Thiều. Chúng
con tiếp nối ước vọng của Thầy trong việc đào
tạo Tăng ni sinh. Chúng con nguyện học thấy để
thấy Thầy có mặt trong từng viên sỏi vụn của núi
đồi tu viện. Trong ánh mắt mang đầy lời nguyền
của Tăng sinh. Trong sự sống vì giáo pháp và hy
sinh cho giáo pháp. Chúng con nguyện học Nghe,
nghe tiếng Thầy xót xa trước sự khổ của muôn
sinh. Nghe niềm đau của Thầy trước sự đói rách
của con người. Nghe tiếng thở dài của Thầy
trong sự điêu linh của Đạo pháp. Chúng con
nguyện học Sống, sống theo Thầy trong bình dị và
đơn sơ. Vui trong niềm vui lo cho Tăng chúng.
Buồn theo nỗi buồn Tăng chúng lầm than, cơm
không đủ ăn, áo không đủ mặc, thiếu Thầy dạy dỗ.
Ngày di quan hôm nay của Thầy vào đất, đất Tu
viện này sẽ thành linh địa cho ngàn sau. Chúng
con đang gục đầu vào đất nghe thông điệp "hy
vọng vào ngày mai" của Thầy.
Thầy ơi,
Nếu năm 2001 có những đêm buồn và dài trong năm,
thì đêm nay là đêm dài và buồn nhất của con. Con
đến hàng giờ nơi bàn thờ của Thầy trong đêm
khuya để dâng trầm thì giờ phút này ở quê nhà là
ngày đưa áo quan Thầy vào nơi an nghỉ. Giờ phút
thiên thu từ biệt này, con chẳng có gì để dâng
lên cúng dường Thầy ngoài mấy lời thơ như lời từ
biệt của con từ bên nay bán cầu:
Từ thuở xa thầy
Vào Nam rồi tìm đường vượt biển
Đời con như những đợt sóng của chiều đông
Có những lúc đêm dài sao dài quá
Nhìn đôi tay gầy guộc mỏi mòn trông
Hai mươi năm trôi nổi vạn lần
Phố thị ấy mỗi ngày đi, sao vẫn còn bỡ ngỡ
Tóc dần bạc theo tuổi đời trăn trở
Tìm quê hương trong giấc mộng đêm dài
Trong độc thoại mới biết mình khờ khạo
Bỏ mùa xuân ôm lấy trọn mùa đông
Đêm nay xin chút lửa hồng
Xin ơn đức ấy phủ lòng xa xôi
Chân bước nhẹ nơi phương trời xứ lạ
Mà vẫn đau vì đau quá bao lần
Khi đau đớn con cúi đầu sụp lạy
Lạy ơn Thầy cứu độ cho hồn con.
Nhất tâm đảnh lễ Nguyên Thiều Đường thượng từ
Lâm tế chánh tông tứ thập nhị tuế, đệ nhất Trụ
trì thượng Đồng hạ Thiện Đại Lão Hòa Thượng Bổn
sư tam bái


|