|
SỨ MỆNH
CHUYỂN HÓA CON NGƯỜI VÀ XÃ
HỘI CỦA ĐẠO PHẬT QUA NGƯỜI CƯ SĨ
Cư sĩ
Tâm Huy - Huỳnh Kim
Quang
(Tham
luận trong Đại Hội Cư Sĩ do
Tổng Vụ Cư Sĩ
GHPGVNTNHN-HK-VPII-VHĐ
tổ chức tại Tổ
Đình Từ Đàm Hải Ngoại, bang Texas, Hoa Kỳ, năm
2003)

Cho đến hôm nay,
có lẽ vẫn không ít người còn quan niệm rằng Đạo
Phật chỉ là một tôn giáo đáp ứng nhu cầu tín
ngưỡng thần quyền và lễ nghi tế tự như cầu an
cầu siêu không hơn không kém. Đối với một số
người khác, Đạo Phật dù mang trong nó giải pháp
toàn hảo cho việc cứu tế con người vẫn chỉ hạn
cục trong lãnh vực tâm linh và cá nhân mà không
có đáp án cho những vấn đề nhiêu khê mang tính
vĩ mô của xã hội.
Họ
viện chứng rằng tại các nước mà Đạo Phật chiếm
đa số ở khu vực Đông Nam Á Châu như Tích Lan,
Miến Điện, Thái Lan, Cam Bốt, Lào, Việt Nam,
v.v..., xã hội vẫn còn bị chìm trong bất an,
khủng hoảng, bế tắc, khổ não và nghèo đói. Nhận
định ấy, trong một chừng mức nào đó, không phải
là điều hoàn toàn không thực tế, hơn nữa nó thật
đáng để cho những người Phật tử quan tâm và suy
nghiệm nghiêm túc về sứ mệnh chuyển hóa con
người và xã hội của đạo Phật trong bối cảnh của
thời đại hôm nay.
Tuy nhiên, có
điều cần nhấn mạnh ngay ở đây rằng, chúng ta
không thể tìm đâu ra trên thế giới này một nơi
chốn nào đó hoàn toàn không có những bất an,
khủng hoảng, bế tắc, khổ lụy và nghèo đói. Bởi
vì bất an là bản chất không thể tách ly khỏi thế
giới của chúng sinh còn vô minh và phiền não.
Nơi nào mà chúng sinh còn vô minh và phiền não
thì nơi đó nhất định còn bất an và đau khổ. Lý
do là vì vô minh và phiền não chính là căn
nguyên của mọi bất an và khổ lụy. Ngược lại,
chính vì còn bất an và khổ não cho nên người
Phật tử cần phải thi thiết hạnh nguyện chuyển
hóa để giải khổ và mang lại sự an lạc cho mình
và tất cả chúng sinh.
Vậy sứ mệnh
chuyển hóa của đạo Phật là gì? Trải qua quá
trình tu chứng giác ngộ nơi tự thân, đức Phật đã
nhìn thấy một cách chân xác rằng thực trạng muôn
đời của chúng sanh là chìm ngập trong vòng sanh
tử khổ đau mà nguyên nhân chính là do vô minh và
các phiền não. Chỉ cần chúng sinh nỗ lực tu tập
để đốn phá vô minh và tận trừ phiền não thì có
thể giải thoát mọi khổ đau và đạt được sự an lạc
trường cửu. Khi một chúng sinh bắt đầu vén màn
vô minh và diệt trừ các phiền não thì cũng chính
là lúc chúng sinh ấy đang chuyển hóa cuộc đời
của họ. Chuyển hóa từ cuộc đời chìm ngập trong
tối tăm khổ não sang cuộc đời giải thoát và an
lạc. Công cuộc chuyển hóa ấy ảnh hưởng một cách
trực tiếp và tận gốc rễ đến chánh báo và y báo
của một chúng sinh. Điều này có nghĩa là nhờ tu
tập vén màn vô minh và diệt trừ phiền não mà một
chúng sinh làm thay đổi hoàn toàn đời sống và
môi trường sống của chính họ. Ở đây, chúng ta
thấy tác dụng của sự chuyển hóa xảy ra trên cả
hai bình diện: cá nhân và xã hội. Trong thực tế,
khi chúng sinh thật sự vén màn vô minh và giải
trừ các phiền não thì trí tuệ hiện bày nên có
thể nhận thức được mọi điều một cách sáng suốt,
và tâm tánh khai mở nên có thể giải thoát được
những trói buộc của tham, sân, si để không phải
tạo nghiệp bất thiện, gieo nhân đau khổ. Một
chúng sinh đã tự chuyển hóa để trở thành người
hòan thiện thì sự hoàn thiện của họ cũng sẽ tạo
ra những tác hưởng tốt cho tập thể, cho xã hội
mà họ đang sống. Thí dụ, một người giữ gìn
nghiêm túc giới không uống rượu thì sẽ không
những có được một đời sống cá nhân an lành mà
còn khiến cho xã hội bớt được những thảm trạng
như nạn hành hung trong gia đình, tai nạn lưu
thông vì uống rượu lái xe, v.v...
Nhưng vô minh và
phiền não trú ngụ ở đâu? Trong tổng thể xã hội
hay trong từng cá nhân mỗi người? Tổng thể xã
hội chỉ là tên gọi cho một tập thể những cá nhân
quần tụ. Không có sự hiện hữu đích thực của từng
cá nhân thì tổng thể xã hội chỉ còn là cái tên
giả. Tất nhiên, khi nói đến sự hiện hữu của từng
cá nhân chúng ta cũng chỉ đứng ở bình diện thế
giới tất đàn, bởi vì nếu nghiệm xét đến kỳ cùng
theo lý duyên sinh vô tánh thì sự hiện hữu của
từng cá nhân đó cũng là giả danh mà thôi. Cùng
kỳ lý, vô minh và phiền não thật sự trú ngụ
trong tâm thức của từng cá nhân. Nhưng mỗi cá
nhân ấy không thể sống độc lập hoàn toàn mà phải
có những tương quan tương duyên với tập thể, với
xã hội. Chính vì thế, trên bình diện nào đó, xã
hội cũng là nơi trú ngụ của vô minh và phiền não
xét như là những nan đề của tập thể. Điều này
giống trường hợp khi một người vì lòng tham chưa
dứt, nên thường nhận tiền của hối lộ của người
khác để biến thành cơn bệnh tham nhũng. Nhưng đó
chỉ là bệnh của một người. Nếu trường hợp tham
nhũng lan truyền ra nhiều người thành một tệ nạn
chung của tập thể thì nó là bệnh của xã hội. Khi
tham nhũng trở thành tệ nạn xã hội thì sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến mọi người trong xã hội ấy ở
mức độ xấu nhất của nó, nghĩa là chứng bệnh tham
nhũng sẽ giống như cơn bệnh lây lan đến những
người khác chung quanh dù họ trước đó chưa từng
phạm vào.
Để hiểu một cách
tường tận hơn về ý nghĩa toàn diện của sự chuyển
hóa, chúng ta cũng nên suy nghiệm về giáo nghĩa
duyên khởi, một giáo nghĩa cột trụ của tòa nhà
Phật Pháp. Giáo nghĩa duyên khởi minh thị rằng
tất cả các pháp, không một ngoại lệ nào, đều do
duyên mà sinh khởi, do duyên mà tồn tại và do
duyên mà hoại diệt. Trong ý nghĩa đó, các pháp
do duyên tụ lại mà sinh thành và duyên ly tán mà
hoại diệt. Các pháp, từ sắc đến tâm, từ nhỏ như
hạt bụi đến lớn như sơn hà đại địa, đều do duyên
mà có. Sự hiện hữu nhờ vào các duyên như vậy là
sự hiện hữu trong mối tương quan, tương duyên,
tương sinh, tương diệt, nghĩa là không một pháp
nào có mặt trong sự độc lập riêng biệt, mà chúng
đều có mặt trong mối liên hệ hỗ tương tạo thành
những mắc xích nối kết vô cùng vô tận gọi là
trùng trùng duyên khởi. Trong mối liên hệ hỗ
tương ấy, các pháp đều đóng vai trò như nhau nên
không một pháp nào là tác nhân ông, là chủ tể
của những pháp khác.
Đem giáo nghĩa
duyên khởi này để quán chiếu vào bình diện nhân
sinh, chúng ta thấy rằng sự hiện hữu của một con
người tuyệt đối không là sự hiện hữu độc lập với
tập thể người, với xã hội, với thế giới. Mỗi
người là một tác duyên bình đẳng trong vai trò
hình thành xã hội. Như vậy không ai có thể sống
tách rời xã hội. Xét trên ý nghĩa đó, sự an lạc
và đau khổ của một cá nhân này tất yếu phải có
mối liên hệ chặt chẽ với sự an lạc và khổ đau
của cá nhân khác, của xã hội. Ngược lại, sự
thịnh suy của xã hội cố nhiên phải có tác hưởng
thật sự đến từng cá nhân sống trong xã hội ấy.
Đặc biệt trong thời đại hôm nay, với sự văn minh
và tiến bộ vượt bực của khoa học kỹ thuật, nhất
là ngành tin học, làm cho thế giới lớn rộng bao
la thuở nào trở thành nhỏ bé thu hẹp. Những tin
tức bằng radio, television, internet, báo chí
cập nhật mỗi giây phút, ghi nhận và phát đi mỗi
sự kiện đang xảy ra, dù ở châu lục nào trên thế
giới cũng trở thành gần gũi, nhanh chóng và hiện
thực đối với mọi người. Quan niệm về một "làng
thế giới" quả thật không còn là ảo tưởng nữa.
Trong chiều hướng này, tất cả nhân loại đều chịu
sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau không chỉ trên
lãnh vực thông tin, thương mại mà cả về mặt văn
hóa, giáo dục, đạo đức, tôn giáo,v.v... Đời sống
của từng cá nhân đã gắn liền với những sinh hoạt
và biến động của thế giới.
Như vậy, mỗi cá
nhân giờ đây không thể tìm kiếm và thành đạt sự
an lạc và giải thoát cho riêng mình nếu không
thật sự tham gia vào công cuộc kiến tạo an lạc
và giải thoát cho tập thể người, cho xã hội.
Ngược lại, xã hội cũng không thể có được sự bình
an và thịnh trị nếu mỗi cá nhân vẫn còn bị trói
buộc trong vô minh và các phiền não. Giải pháp
thích ứng nhất chính là mỗi cá nhân phải nỗ lực
đốn phá vô minh và tận diệt phiền não cho chính
mình, đồng thời cũng phải tích cực dấn thân góp
phần vào việc giải cứu xã hội thoát khỏi cộng
nghiệp bởi những thế lực của vô minh và phiền
não. Chính trong ý nghĩa này mà hạnh nguyện cao
cả của Bồ tát đạo đã được tuyên dương và thừa
truyền. Qua đó, người cầu thành tựu Phật đạo tối
thượng lấy sự nghiệp cứu độ cho chúng sinh được
giác ngộ và giải thoát làm tiêu đích cho tiến
trình thực nghiệm giác ngộ và giải thoát của
chính mình.
Nhưng như thế, tự
thân người cư sĩ có thể tham dự được gì trong sứ
mệnh chuyển hóa này? Phải chăng sứ mệnh chuyển
hóa con người và xã hội là sứ mệnh riêng của
hàng "tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự", hay hàng
ngũ những vị xuất gia? Tất nhiên, không ai có
thể phủ nhận vai trò "trưởng tử của Như Lai" của
hàng ngũ xuất gia, bởi lẽ, hàng ngũ xuất gia là
biểu tượng thiêng liêng của đạo đức xuất thế
siêu việt, là hình ảnh sinh động nhất minh thị
hiệu năng giải thoát và giác ngộ, từ bi và trí
tuệ của giáo pháp Phật đà trên thế gian này.
Biểu tượng đó không gì có thể thay thế được.
Song, tòa nhà uy nghiêm tráng lệ của Phật Pháp
cũng mở rộng cửa cho hàng cư sĩ, cũng dành cho
người cư sĩ những vị thế xứng đáng mà lịch sử
truyền bá Phật giáo thế giới trên hai mươi lăm
thế kỷ qua đã minh xác.
Người cư sĩ có
thể tự hào về những tấm gương sáng ngời trong
công cuộc chuyển hóa con người và xã hội của đạo
Phật qua hình ảnh của Bồ tát cư sĩ Duy Ma Cật,
của cư sĩ Thắng Man, của Thiện Tài Đồng tử, của
trưởng giả Cấp Cô Độc, của vua Tần Bà Sa La, của
đại đế A Dục, của hoàng đế Ca Nị Sắc Ca ở Ấn Độ;
hình ảnh của vua Lương Võ Đế, của cư sĩ Bàng Uẩn
ở Trung Hoa; hình ảnh của vua Lý Công Uẩn, vua
Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Nguyễn Trãi,
v.v... ở Việt Nam. Còn nhiều và rất nhiều vị cư
sĩ đã, đang và sẽ dấn thân vào sứ mệnh chuyển
hóa con người và xã hội mà chúng ta không thể
biết hết. Bởi vì mục đích có mặt của đạo Phật là
chuyển hóa con người và xã hội mà người cư sĩ là
thành phần tiếp cận trực tiếp nhất, sâu rộng
nhất trong cộng đồng người và xã hội ấy, cho nên,
vai trò của người cư sĩ thật quan trọng và kiến
hiệu cho sứ mệnh chuyển hóa của đạo Phật.
Đối với việc
chuyển hóa tự thân, người cư sĩ có đủ cơ hội và
khả năng để thực hiện và đạt đến mục đích tối
thượng. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta
không nhận thức được những chướng duyên to lớn
mà đời sống thế tục của người sư sĩ phải đối mặt.
Nhưng, nếu người cư sĩ luôn luôn ý thức được
điều đó để gia công và nỗ lực vượt bực và liên
tục
thì sẽ có thể vượt qua được mọi chướng duyên.
Điều tối khẩn thiết và trọng đại là người cư sĩ
phải ý thức một cách thường trực, mãnh liệt và
sâu sắc rằng đời sống này thật vô thường ngắn
ngủi và đầy dẫy khổ não, rằng chúng ta sanh ra
trong đời này gặp được chánh pháp của Phật đà là
điều vô cùng quý giá và sẽ không dễ có cơ hội ấy
lần thứ hai, cho nên, phải hạ quyết tâm phát đại
thệ nguyện tu tập để giác ngộ vô minh và giải
thoát phiền não ngay trong đời này mà không thể
trì hoãn thêm nữa. Người cư sĩ cũng nên nhận
chân được sự thật rằng mọi nỗ lực chuyển hóa tha
nhân và xã hội đều phải khởi đi từ việc chuyển
hóa chính tự thân của mỗi người. Bởi vì, khi
chưa thật sự chuyển hóa được tự thân mà lăn xả
vào việc chuyển hóa tha nhân và xã hội thì
giống như trường hợp một người không biết bơi mà
nhảy xuống biển để cứu người, cuối cùng cả hai
đều chết đuối.
Đối với sứ mệnh
chuyển hóa con người và xã hội, người cư sĩ lại
càng không thể bỏ quên, vì khi những người chung
quanh, khi xã hội mà chúng ta đang sống chưa
được chuyển hóa, chưa được an lạc, thì chính
chúng ta cũng sẽ không thể sống an lạc, không
thể thành tựu việc chuyển hóa tự thân và mục
đích cứu cánh giải thoát, giác ngộ. Chính vì vậy,
song song với việc chuyển hóa tự thân, người cư
sĩ phải nổ lực vào việc chuyển hóa tha nhân và
xã hội mà đối tượng trước nhất và gần nhất là
gia đình và thân bằng quyến thuộc. Chuyển hóa
bằng cách nào? Trước tiên, chính đời sống với
thành quả của sự chuyển hóa tự thân, như cách
ứng xử bằng trí tuệ và lòng thương yêu chân thật
là sức mạnh cảm hóa những người thân thuộc. Thứ
đến, uyển chuyển tùy duyên để đưa người thân
thuộc của mình đến với đức Phật và giáo pháp của
ngài khi có cơ hội. Sau đó, phải thường xuyên
sách tấn người thân thuộc thực nghiệm giáo pháp
giải khổ cho người và mình trong đời sống hằng
ngày. Cơ hội ấy ở đâu và khi nào? Câu trả lời
phải dành cho mỗi người cư sĩ, bởi vì chỉ có
chính mỗi người khi tiếp xúc với hoàn cảnh thực
tế riêng biệt mới biết chính xác rằng cơ hội là
lúc nào và ở đâu. Điều này có nghĩa là gì? Đó
chính là trong mỗi phút giây, trong từng hoàn
cảnh của đời sống sinh hoạt gia đình, người cư
sĩ phải tỉnh giác và bén nhạy để biết rằng đây
chính là lúc, là chỗ, là cơ hội mà mình cần phải
thi thiết sứ mệnh chuyển hóa thân nhân.
Có một số người
nhận định rằng, người cư sĩ Phật giáo thường ít
tích cực trong những sứ mệnh chuyển hóa và xây
dựng xã hội. Nhận định này không phải là không
có cơ sở. Bởi vì có hai lý do khiến cho người cư
sĩ không tích cực dấn thân chuyển hóa xã hội.
Thứ nhất, khi quán chiếu cuộc đời dưới ánh sáng
của chánh pháp, người cư sĩ thấy rằng các pháp
đều vô thường giả tạm, đều khổ não triền miên
cho nên khởi tâm yểm ly đối với các pháp, không
thích tham dự vào những sinh hoạt có tính cách
thế tục, muốn có thì giờ để thanh tịnh ba nghiệp,
để tự chuyển hóa. Thứ hai, vì chưa tự tin vào
đạo lực của mình có thể vượt qua được những
chướng duyên, sợ bị sa ngã trong tham dục, trong
hình danh sắc tướng, vì vậy không dám dấn thân.
Thật ra, khi khai thị bộ mặt thật của thế giới
tục đế là vô thường, khổ, không và vô ngã, đức
Phật không chủ ý khuyên chúng ta chối bỏ cuộc
đời, xa lánh thế giới, mà ngài chỉ muốn nhắc nhở
chúng ta rằng phải tự giải thoát khỏi những cố
chấp vào thật ngã, thật pháp để không bị trói
buộc trong vô minh và phiền não. Vì chúng sanh
không có pháp nhãn để thấy rõ thật tướng của các
pháp nên vọng tâm chấp trước các pháp sinh diệt
vô thường cho đó là thật. Vạn pháp tuy là huyễn
hóa không thực, song hễ còn là chúng sanh thì
còn tạo nghiệp và thọ khổ, chính vì vậy, đức
Phật đã tận tụy hoằng dương chánh pháp để giáo
hóa quần sanh, chuyển hóa xã hội chứ không an
trú trong niết bàn tịch diệt. Trên thực tế, con
người làm sao có thể cắt đứt những mối liên hệ
với tha nhân, với xã hội, nhất là người cư sĩ có
gia đình, vợ chồng con cái, cha mẹ anh em, bà
con thân tộc? Khi con người chưa thể xả ly tất
cả liên hệ với người khác, với xã hội thì làm
sao có thể tránh được những dao động, trói buộc,
chướng duyên, và phiền não? Hơn nữa, là người
con Phật, làm sao chúng ta có thể ngoảnh mặt làm
ngơ trước những khổ đau của đồng loại, những bất
an, bế tắc và thống hận của xã hội, của cuộc đời?
Do vậy, là một cư sĩ, chúng ta phải tinh tấn
không ngừng góp phần vào việc giải khổ cho đồng
loại và chuyển hóa xã hội, đây cũng chính là
phương cách cụ thể nhất để tự chuyển hóa mình.
Chuyển hóa xã hội
bằng cách nào? Trước hết chúng ta phải xác định
vị thế mà người cư sĩ đứng để từ đó thực hiện
việc chuyển hóa. Có hai vị thế mà người cư sĩ có
thể đứng để thực hiện việc chuyển hóa xã hội. Đó
là vị thế cá nhân và vị thế lãnh đạo quần chúng.
Ở vị thế cá nhân, người cư sĩ tùy theo chức
nghiệp của mình như nhà giáo, thương gia, kinh
tế gia, bác sĩ, kỹ sư, nhà văn, nhà báo, họa sĩ,
nhạc sĩ, công nhân thợ thuyền, nông dân, v.v...
mà thực hiện sứ mệnh chuyển hóa. Thí dụ, là một
nhà giáo, người cư sĩ có thể quan tâm nhiều hơn
đến phương cách giáo dục chú trọng vào việc
hướng dẫn cho học sinh tự triển khai tinh thần
tự giác để mở mang trí tuệ nhận thức một cách
khách quan và sáng suốt, cũng như hun đúc cho
con em thứ tình thương vị tha cao cả, hướng đạo
cho tuổi trẻ biết nhận chân được giá trị làm
người và mục tiêu chí thượng của đời sống. Là
một nhạc sĩ, người cư sĩ có thể soạn, trình bày
và phổ biến những bản nhạc đánh thức con người
trước ý nghĩa của đời sống, trưởng dưỡng lòng
thương yêu chân thật và cao thượng giữa người
với người, làm cho người nghe rũ bỏ những triền
phược và khổ não để thể nhập vào cảnh giới siêu
thoát… Trong vị thế này, người cư sĩ có thể ứng
dụng bốn phương pháp chuyển hóa tha nhân mà đức
Phật đã dạy trong bốn nhiếp pháp. Đó là đem tài
sản, của cải vật chất ra ban bố cho mọi người
nghèo khó, đem chánh pháp giải thoát ban bố cho
chúng sinh đang khổ não, đem oai đức và uy dũng
để che chở cho người thế cô sức yếu trước sự đe
dọa của bạo lực; dùng lời từ hòa thân thiện,
thành thật để cảm hóa người; cùng chia xẻ với
tha nhân những việc làm ích lợi chung; tham dự
vào dòng sinh hoạt chức nghiệp của người khác để
có cơ hội thuận tiện mà chuyển hóa họ.
Mặc dù phương
thức chuyển hóa xã hội ở vị thế cá nhân rất cụ
thể, tiện ích và dễ thực hiện, nhưng vẫn còn hạn
cục trong lãnh vực cá nhân và với một tầm hoạt
động nhỏ hẹp, cho nên, thành tựu đương nhiên có
giới hạn. Đối với xã hội rộng lớn về không gian
và bao quát về hành hoạt thì sự chuyển hóa, nếu
thực hiện được ở tầm mức xã hội sẽ mang lại
thành quả to lớn và sâu rộng hơn. Muốn chuyển
hóa xã hội ở tầm mức rộng lớn thì người cư sĩ
cần phải ở vị thế lãnh đạo quần chúng. Hay nói
một cách cụ thể hơn, để đạt vị thế lãnh đạo này
hầu thực hiện phương thức chuyển hóa, người cư
sĩ phải dấn thân vào nhiều môi trường hoạt động
xã hội đóng vai trò lãnh đạo để thi thiết hạnh
nguyện độ sanh. Tùy theo địa vị cao thấp của nhà
lãnh đạo, người cư sĩ vốn mang trong mình lý
tưởng chuyển hóa xã hội sẽ có cơ hội để thực
hiện những kế hoạch ổn định xã tắc, cải thiện
dân sinh, phát huy dân trí, xây dựng dân chủ,
kiến tạo tự do, phục hoạt nhân và dân quyền,
phát triển đất nước, làm cho dân giàu nước mạnh,
làm sạch xã hội không còn những tệ trạng như
tham nhũng, mãi dâm, ma túy, băng đảng, v.v...
Lẽ tất nhiên, đó
chỉ là tâm nguyện, còn trên thực tế, người cư sĩ
khi ở địa vị lãnh đạo làm sao và lấy phương thức
nào để vừa làm tròn vai trò lãnh đạo quần chúng
vừa thực hiện được thành tựu sứ mệnh chuyển hóa
xã hội? Hay một cách trực tiếp hơn, đạo Phật có
giải pháp nào hữu hiệu cho việc chuyển hóa xã
hội? Hiển nhiên là có, như trong Lý Hoặc Luận
của Mâu Tử có nói: "Con đường đó (đạo Phật) ở
nhà thì có thể thờ cha mẹ, làm chủ nước thì có
thể trị dân, ở môät mình thì có thể trị thân."
(1).
Xưa ở Ấn Độ có
vua A Dục, ở Trung Hoa có vua Lương Võ Đế, ở
Việt Nam có các minh quân thời Lý, Trần đều lấy
tinh thần của đạo Phật ra mà trị dân, cho nên
các thời kỳ ấy xã hội được thăng tiến, đất nước
được hưng thịnh, toàn dân được an cư lạc nghiệp.
Vậy tinh thần của đạo Phật đó là gì? Đó là nhà
lãnh đạo, trước hết, phải tu thân bằng giáo pháp
thâm diệu của đạo Phật để có thể khai mở trí tuệ
và phát triển lòng từ bi. Nhờ có trí tuệ và từ
bi, nhà lãnh đạo có đủ tài năng và tâm lượng để
gánh vác việc lớn, có đủ bản lãnh vượt lên trên
để điều phối thành phần nhân sự đa năng đa dạng
trong việc điều hành các công tác tập thể. Thứ
đến, tinh thần đặc thù và nền tảng của Ngũ giới,
Thập thiện, Lục độ, lý tưởng Bồ tát đạo, Duyên
khởi, v.v... là những kim chỉ nam, những phương
thức kiến hiệu có thể ứng dụng trong việc chuyển
hóa xã hội.
Kính bạch chư Tôn
Đức,
Kính thưa Đại Hội,
Là
một
người Việt Nam sống trong một đất nước trải dài
qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử hiện đại
với biết bao khổ nhục, đau thương, mất mát,
khủng hoảng và tăm tối mà cho đến hôm nay dân
tộc vẫn chưa thoát khỏi, là một con người sống
trong cộng đồng nhân loại đang đối diện với vô
vàn những bất an và biến động, mỗi người trong
chúng ta với lương tri của một con người, với
thức giác của một cư sĩ Phật tử, phải làm gì
nhiều hơn và dũng mãnh hơn để góp phần vào việc
chuyển hóa con người, đất nước và xã hội!
Trật tự của thế
giới đang thay đổi tận gốc rễ với viễn tượng
chưa mấy sáng sủa, những khuynh hướng cuồng tín,
bạo lực của cá nhân và tập thể đang đối diện
trước thử thách sống còn, nhân loại trong những
lo sợ thường trực vì nạn khủng bố, bạo động và
chiến tranh đang dò tìm con đường đến trú xứ của
ổn định, hòa bình và an lạc. Đạo Phật chắc chắn
giúp ích được rất nhiều cho con người trong hoàn
cảnh bất an hiện nay. Vấn đề còn lại là ở nơi
hạnh nguyện của người con Phật trong sứ mệnh
chuyển hóa mà hàng cư sĩ là lực lượng tiên phong.
Kính xin kết thúc
bài tham luận này ở đây với niềm tin sắt đá vào
việc hoàn thành thệ nguyện và vai trò của người
cư sĩ trong sứ mệnh chuyển hóa con người và xã
hội giữa thời đại hôm nay.
Trân trọng cám ơn
và kính chào quý liệt vị.


|