PHẬT GIÁO VÀ VẤN ĐỀ DÂN CHỦ

Tác giả: GS. Kurt F. Leiderker

Việt dịch: Minh Diệu


        Phật giáo là một phương cách sống và cũng là một quan điểm. Hai yếu tố này đã tạo thành một đạo Phật độc nhất trên thế gian. Vậy, phương cách sống của Phật giáo là gì và bằng cách nào để Phật giáo hội nhập vào giới hiện đại?

Phật giáo không thể tồn tại nếu không có hình ảnh cao thượng của đức Phật. Trước hết, chúng ta hãy khảo xét vấn đề này và tìm vài dẫn chứng cho vấn đề khả thi về phương cách sống mà chúng ta cho là “một quan điểm dân chủ” đã được Đức Phật dạy.

Mặc dù đức Phật được xem như là nhà sáng lập ra “phương thức sống” được chúng ta gọi là Phật giáo, Ngài không bao giờ đặt mình vào vị trí nổi bật này. Thay vì, Ngài đặt “trí tuệ” mà Ngài đạt được vào vị trí cao tột này qua hình thức giáo pháp (tức là lời dạy của đức Phật). Ngài không ép buộc mọi người phải theo Ngài. Đối với một vấn đề, Ngài khuyên mọi người cũng như Ngài nên suy xét trước rồi mới chấp nhận vấn đề đó qua sự thấu hiểu hợp lý. Ngài không có ý định phải thay đổi cá tính của đệ tử. Vì vậy trong Phật giáo, chúng ta thấy quan điểm của Đức Phật về cá tính con người được tôn trọng hơn hết. Dạy và giảng giáo pháp được thực hiện trong đường lối lý tưởng nhất, không có dấu vết giáo điều, không có tình trạng ép buộc. Nếu đệ tử muốn trình bày điều gì, vị ấy được đề nghị phải giữ tâm mình trong trạng thái hoàn toàn trung thực. Đây là lối giáo dục mà chúng ta đã có từ lâu.

Giáo dục là sự phát triển tâm thức và tính cách. Điều này cũng giống như một mảnh vườn thì cần có người chăm sóc, còn đệ tử thì cần có thầy hướng dẫn. Người làm vườn phải cuốc đất, làm cỏ và tưới nước. Hoa màu thu được tùy thuộc vào phẩm chất hiện hữu của cây trồng. Chúng ta thấy nền tảng của lối giáo dục này đã có mặt trong xã hội dân chủ và sau này nó được gọi là giáo dục cải cách. Hơn nữa, chúng ta còn biết rằng các nền tảng giáo dục này đã hiện hữu từ xa xưa và đã được các vị tôn sư ứng dụng đến nó. Vì thế, đức Phật tránh việc đề cập đến cá nhân mà Ngài chỉ đặt sự lưu tâm vào giáo pháp (phương pháp giáo dục). Ngài thiết kế giáo pháp như những dấu chỉ đường, bằng cách này giáo pháp sẽ được mọi người quan tâm đến hoặc làm ngơ đi, chính nhờ cách này mà lần lượt nhiều người tìm ra được lối đi hơn là những người bị lạc lối. Không có cách nào tốt hơn là đọc để hiểu thông tin trước rồi  thực hiện theo chỉ dẫn đó để thu hoạch kết quả lợi ích cho mình. Tất nhiên, đức Phật cũng làm như vậy cho lợi lạc chính mình. Cũng như vậy, bốn chân lý chắc thật (Tứ Thánh Đế) được chấp nhận hay từ chối tùy vào lựa chọn mỗi người. Bát chánh đạo cũng được tuyên thuyết một cách khách quan. Ở đây có thể nói rằng Bát Chánh Đạo hoàn toàn trung lập đối với vị tuyên thuyết về nó.

Qua việc này cho thấy rằng đức Phật tránh việc tôn thờ cá nhân, trong các thế kỷ đầu lịch sử Phật giáo những biểu tượng ám chỉ về đức Phật được biểu hiện như bánh xe pháp, trụ đá, cây bồ đề, thiền tòa; vì thế các biểu tượng đã trở thành vật tượng trưng cho đức Phật cũng như quan điểm được Ngài thuyết giảng. Vì vậy, đức Phật là một vị lãnh đạo trong ý nghĩa Ngài là vị đã khám phá ra con đường, sự khám phá này bất cứ ai cũng có thể làm được một khi người ấy được truyền trao đầy đủ các dữ kiện.

Vai trò lãnh đạo của Ngài xuyên suốt không gián đoạn và Ngài thật sự là một vị lãnh đạo đáng tôn kính. Ngài không cỡi trên lưng ngựa để thể hiện mệnh lệnh hoặc dọa dẫm, mà Ngài ngồi, đứng hoặc đi bộ bằng những biểu hiện của người nhắc nhở, dạy dỗ, biểu hiện tình thương cao thượng và được chiếu sáng từ trí tuệ nội tại.

Người Á châu có tinh thần tôn sư trọng đạo. Vì vậy, sự tôn kính cho thấy rằng kiến thức và trí tuệ có giá trị siêu việt hơn danh vọng và vật chất. Vì mục đích tầm cầu kiến thức thái tử Tất Đạt Đa đã từ bỏ quê hương; vì mục đích mở thông trí tuệ thái tử đã thành tựu, các cấp độ trí tuệ giải thoát trong tiến trình tu tập, rồi lại từ bỏ tất cả.

Một cách thực tập mà các bậc cha mẹ ở Thái Lan khuyên con mình trải qua ít nhất 3 tháng thực tập như đức Phật trong cuộc đời của chúng đó là: từ bỏ dục lạc, giàu sang và tất cả những cám dỗ, để khoát lên mình tấm y vàng. Nhờ vậy, khi trở lại đời sống thế tục, ít nhất một lần trong đời người con lãnh hội được một kinh nghiệm về lối sống giản dị, khiêm tốn là điều kiện phát sinh trí tuệ và tuệ giác ly tham mặc dù họ chưa hoàn toàn giác ngộ.

Sự tôn kính đức Phật thể hiện trong các biểu hiện bằng hình tượng của Ngài chứ không phải qua việc thờ cúng. Tôn kính đặc tính vĩ đại của vị thầy, vì Ngài đã khám phá để thành tựu đạo quả tối thượng, nhưng Ngài không hề trốn tránh thế giới khổ đau để hưởng thụ giải thoát cho riêng mình mà Ngài cống hiến không mỏi mệt để truyền đạt trí tuệ do Ngài đạt được thành những lời dạy giản dị, hướng dẫn qua nhiều phương cách và tiến trình để cho tất cả chúng sanh từ bình dân đến trí thức đều có thể hiểu được. Quan điểm này không chứa đựng tư tưởng vị kỷ mà là tư tưởng xã hội trong ý nghĩa cao nhất. Ngay cả trong trạng thái an lạc không thể nghĩ bàn của Niết- bàn, đức Phật hướng tâm về chúng sanh với lòng từ bi vô hạn. Chính vì tính cách này mà các Phật tử tôn kính Đức thế tôn, với đôi mắt hiền từ khép lại và nụ cười thanh thoát trên khuôn mặt của Ngài.

Ngài là bậc chiến thắng, không phải chiến thắng kẻ thù mà đã chiến thắng cái gọi là các yếu tố nền tảng để hình thành bản chất con người, đã thu hút người Phật tử  quy ngưỡng về Tam Bảo. Chúng sinh cúi lạy Ngài không phải vì sự hào nhoáng vinh quang của Thái Tử Tất Đạt Đa mà vì Ngài đã chứng vô thượng giải thoát dưới cội bồ đề, là kho tàng của trí tuệ. Các yếu tố dẫn đến một đời sống có trí tuệ và một phong thái bình an đều là những phát minh (của Đức Phật). Nhờ những phát minh này mà những người Phật tử cần cống hiến khả năng của mình vào việc xây dựng một lối sống dân chủ.

Địa vị và danh vọng không được đệ tử đức Phật tôn kính ở cấp độ cao tột như trí tuệ. Giáo lý nhà Phật có nhấn mạnh đến khái niệm về tính cao thượng. Không chỉ Bốn chân lý chắc thật và Tám Con Đường Chân chánh dẫn đến Niết bàn cao thượng; mà sự cao thượng thật sự chính là “người” thực hành theo Tám con đường chơn chánh. Hay nói cách khác, cuộc đời mà bạn hướng đến, tư tưởng mà bạn nghĩ đến sẽ làm cho bạn cao thượng, chứ không phải y phục bạn mặc, hoặc tên tuổi và địa vị bạn nắm giữ làm bạn cao thượng. Các vị xuất gia là các vị thánh cao thượng hay Tăng đoàn của các vị thanh cao.

Tất cả những điều đã trình bày cho chúng ta thấy rằng trong Phật giáo giá trị chân thật được chuyển đổi từ hình thức vật chất và thế gian sang hình thức tâm linh, tinh thần nhưng không hề bài bác về của cải và tài năng như một sự xấu xa tội lỗi. Vì vậy, điều được công nhận là những thứ này (của cải, tài năng) vẫn còn có giá trị cần thiết cho đến khi nào chúng ta thành tựu trí tuệ tối thượng. Vương vị và danh vọng đều được thế gian chấp nhận; nhưng chân lý cao thượng không có sự sự tồn tại của những thứ này.

Đức thế tôn giao thiệp với mọi người, ngay cả với những người hạ đẳng và Ngài không hề hối tiếc về việc từ bỏ giai cấp quí tộc của mình. Thực vậy, Ngài đã nhận ra một nghĩa lý đó là: “giai cấp” là biểu hiện của sự phân chia của con người trong xã hội qua nghề nghiệp.

Ngài đồng ý có vua, có giáo sĩ Bà la Môn trong một quốc gia (Ấn Độ cổ đại). Ngài thừa nhận có sự bất công trong xã hội vì Ngài biết rằng sự công bằng chân thật không bao giờ có mặt ở thế giới hiện tượng này. Một Bà la Môn chân chính, một minh quân không phải biểu hiện bề ngoài mà phải có giá trị thực sự từ bên trong đó là tư tưởng và tính cách cao thượng.

Vì vậy, đức Phật không phải là nhà cải cách, phần nhỏ nào đó Ngài là nhà cách mạng qua đánh giá của các học giả Tây phương thường gán cho Ngài như vậy. Ngài còn bị gán cho là có tư tưởng muốn thiết lập lại xã hội Ấn giáo và xóa bỏ giai cấp. Nếu như, hệ quả về lời dạy của Ngài, sự giải phóng khỏi các giới hạn ép buộc trong xã hội Ấn giáo đã xảy ra, thì đó chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Một trong những nhận định sai lầm cho rằng đức Phật đã phát động cải cách xã hội. Mục tiêu của Ngài là sự giác ngộ và đoạn trừ phiền não và khổ đau bất cứ nơi nào nó có mặt chứ không phải giải thoát đau khổ cho những người ở giai cấp thấp trong xã hội. Điều đức Phật quan tâm đến là bản chất và nguyên lý của khổ và chết chứ không phải quan tâm đến những nỗi khổ vì những xa đọa và bất công trong xã hội.

Thực ra, trong lời dạy của Ngài đức Phật đã khéo léo biện minh để hóa giải những xung đột giai cấp trong xã hội. Phương châm của Ngài là hòa bình. Hòa bình không nhất thiết phải thay đổi quyền lực mà phải thiết lập lối suy nghĩ của mình dẫn đến sự giải thoát, hòa bình không thể đạt được chỉ hoàn toàn nhờ vào các phương tiện bên ngoài. Chính sự cải thiện tinh thần từ bên trong rồi sau đó mới biểu hiện ra ngoài qua những hành vi đạo đức. Chúng ta không thể làm những việc tốt mà không có một quan điểm hoặc khái niệm về điều thiện.

Một trong những nền tảng được chấp nhận trong một xã hội dân chủ đó là: nó phải được thiết lập và nên được thiết lập qua tính đa dạng của các cá nhân và tính cách của mỗi cá nhân phải được bảo vệ. Đây cũng là ý nghĩa nền tảng của dân chủ và cũng là sự quan tâm của Phật giáo. Trong Kinh Mi-Tiên Vấn Đáp (Milindapanna Sutta) có dạy rằng: “…ví như các loại cây cỏ có sự khác nhau là tùy theo tính chất hạt giống của chúng, cũng vậy tính cách và thân phận của mỗi người khác nhau là do các việc làm của họ khác nhau rồi dẫn đến kết quả tương ứng khác nhau.” Đây là giáo lý về nghiệp (kamma: hành động), giáo lý này phổ biến rộng rãi trong tư tưởng Ấn độ. Một người trở nên tốt qua việc làm tốt và trở nên xấu do việc làm xấu. Người Phương Tây bảo đây là giáo lý về trách nhiệm cá nhân.

Có một sự khác biệt là Phật giáo cho rằng: đời sống hiện tại của một cá nhân là kết quả của quá khứ và còn ảnh hưởng đến tương lai của cá nhân đó. Tuy nhiên, nội dung then chốt thì tương đồng với nhau. Mỗi cá nhân phải có trách nhiệm toàn bộ những tư duy và hành động của mình, ngược lại bất cứ việc làm sai lầm nào của một cá nhân đều có thể sám hối để sửa đổi và luật pháp sẽ vô hiệu hóa tội lỗi ấy. Xã hội sẽ thay đổi, cũng như thiên nhiên chịu sự chi phối của quy luật nhân quả cho quá trình tồn tại của nó từ quá khứ cho đến tương lai, nhưng không phải tất cả đều phải chịu sự chi phối của quy luật này.

Trong xã hội dân chủ không phải mọi người đều hoàn hảo. Trong tự, qua giao thiệp với đồng loại con người phát triển quan điểm niềm tin về nghiệp báo. Chính quan điểm này, Phật giáo cho rằng: một người có thể và phải hoàn hảo qua thể hiện thiện nghiệp (hành vi tốt) của anh ta. Vâng, có nghiệp quốc gia, và mọi người thuộc các cộng đồng trong quốc gia tin nhận điều này. Chúng ta là những người thừa tự tội lỗi cũng như đạo đức của tổ tiên để lại.

Theo lý thuyết về nghiệp thì mỗi cá nhân tự do thực hiện các quyết định của mình. Theo quan điểm của đức Phật một cá nhân nào đó muốn hướng đến giải thoát (vimukti) và Niết-bàn (nibbana) thì chính cá nhân đó phải quan tâm đến con đường giải thoát và Niết bàn. Vì vậy, đức Phật muốn ám chỉ rằng: trong  xã hội cũng cần phải có các điều kiện cần thiết cho việc chứng đạt Niết-bàn. Hay nói cách khác, tự do phải được bảo hành ở đời này.

Thực vậy, tự do chính là huyết mạch của tôn giáo, trong bất cứ hình thức tôn giáo nào tựu trung chỉ có một khuynh hướng là tìm đến tự do. Bất kỳ xã hội nào tôn thờ tính ngưỡng về học thuyết định mệnh thì kết quả sẽ nhốt kín con người vào một thế giới tư tưởng và hành động ở đó con người không còn hoạt động tự do nữa, và tự do không thể thực hiện bằng nổ lực của mỗi cá nhân.

Chính Emerson, một người Mỹ, đã phát biểu rằng: “văn minh y cứ vào đạo đức”. Với quan điểm này, mọi Phật tử sẽ đồng ý rằng giới là nền tảng đối với đời sống con người. Chánh ngữ (sammavaca), chánh mạng (sammakammanta) và chánh nghiệp (sammaajiva) là ba yếu tố quan trọng (thuộc về giới) trong Bát Chánh Đạo, nếu chúng bị phá hoại, ví dụ: nếu sự chân thật và tôn trọng trong ngôn ngữ là chất liệu liên kết trong các mối quan hệ của con người không còn giữ gìn nữa, nếu không có ngôn ngữ thì con người không còn là người nữa, xã hội sẽ tan hoại và văn minh sẽ sụp đổ. Tương tự như vậy là sự thực hành hạnh chân thật bằng thân hành trong cư xử; cư xử trong xã hội, nếu chúng ta làm tổn hại đồng loại qua việc làm của thân (thể), hoặc lấy cắp những gì không phải sở hữu của chúng ta, hoặc chúng ta tham gia vào các hoạt động không mang lại hài hòa và hạnh phúc cho đồng loại.

Chúng ta đánh giá cao các nước Tây phương về mặt đạo đức và những quốc gia theo thể chế dân chủ và tôn thờ tinh thần tự do được bao hàm trong thành ngữ “sữa của những người rộng lượng”. Tương tự trong Phật giáo, cả hai giới: xuất gia và tại gia được khuyến khích để hướng đến và làm cho mọi người sống trong “các cảnh giới cao thượng” đó là Từ, Bi, Hỷ và Xả.

Từ (Metta) là tấm lòng tốt và tình bạn tốt, với lòng từ một Phật tử chân chánh sẽ làm cho nó thấm nhuần khắp mọi nơi. Tương tự đối với Bi (karuna), thương yêu tất cả chúng sanh, vì chúng sanh là thừa tự các phiền não và khổ đau của ác nghiệp. Một số học giả chưa đồng ý về nội dung của Hỷ (mudita). Họ gọi nó là tình thương vô cầu, như thể tình thương luôn ban ra mà không mong sự báo đáp. Có lẽ sự cảm thông “sympathy” là từ Anh ngữ tương đương. Xả (Uppekkha) được chuyển nghĩa như “trạng thái thờ ơ đối với các dục lạc hoặc là sự lãnh đạm đối với các dục lạc”; nhưng: “trạng thái thanh thản” có lẽ là sự phiên dịch chính xác.

Một xã hội chủ trương quan điểm tự do hơn là sự đàn áp và ngăn cấm, một tôn giáo cho phép mọi người thực tập không giới hạn thì tự nó sẽ hoàn hảo, và chắc chắn sự cảm thông sẽ được hiển bày. Có hai loại cảm thông, một là cảm thông với người không tôn giáo và hai là hết lòng quan tâm đến cái gọi là không chính giáo mặc dù không tán thành về nó. Quyền bất đồng quan điểm được bảo vệ trong tất cả các quốc gia dân chủ. Vì, con người phải hiểu rằng: chân lý tối thượng không thuộc sở hữu của riêng ai, con người chỉ dò dẫm được nó (chân lý) qua khía cạnh khái niệm, tuy nhiên bao lâu con người còn bị giới hạn những hiểu biết của mình thì chân lý tối thượng vẫn vững tồn.

Quyền tương tự như vậy được đề cập trong tư tưởng Phật giáo. Vì, thực tại tối hậu (Niết-bàn) không thể định nghĩa hoặc trình bày.Vì vậy, nếu bạn hoặc tôi khởi hành tìm đến nó chúng ta phải tìm bằng kiến thức và nỗ lực của chính mình. Nếu đạo đức mà phải tranh đấu bởi vì có sự khác biệt là điều không hợp lý.

Tôi nghĩ, kết luận bây giờ hơi sớm về vị trí của Phật giáo trong thế giới dân chủ. Vị trí của Phật giáo được xác định chắc chắn ở đó. Phật giáo ắt hẳn cống hiến lớn cho tình thương và tự do, được thực hành một cách dân chủ ở các quốc gia và còn là niềm tự hào của họ. Khi nào lời dạy của đức Phật còn hành trì thì đời sống của người Phật tử vẫn còn an vui và ổn định. Kẻ thù trước mặt dễ nhận ra, nhưng ý tưởng để khắc phục kẻ thù thì thật sự rất tinh vi. Vì vậy, cách hay nhất trong xây dựng nền tảng để khắc chế kẻ thù không chỉ bằng thực hành mà còn phải hiểu biết về  triết lý Phật giáo nữa. Khi chúng ta nói “chánh” nghiệp, “chánh” tư duy, “chánh” tinh tấn có nghĩa là chúng được thực hành hoàn hảo chứ không phải chỉ hiểu đúng thôi. Nhưng không phải bằng trực giác, bằng thói quen mà có thể làm đúng hoặc làm hoàn hảo công việc. Cần phải suy tư đến vấn đề: “thế nào là “đúng”.

 

MINH DIỆU

(dịch từ Bodhi Leaves No. B 17)

Hội in ấn kinh sách Phật giáo, Kandy 1973, Tích Lan.

Xuất bản lần thứ nhất (1961)

Xuất bản lần thứ hai   (1973)

 

 
 
simple stats
lượt đọc kể từ Mùa Phật Đản 2552 - 2008