THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH BẢO AN

 

CHƠN TƯỚNG

Thích Như Điển

 

Lịch sử là một chuỗi thời gian trải dài qua không gian vô tận của một kiếp nhân sinh. Thời gian vô cùng và không gian vô tận ấy, con người là chứng nhân của lịch sử. Nếu nói giáo dục là vấn đề nhân bản của con người, thì sự “Truyền Đăng Tục Diệm” trong cửa Thiền là vấn đề sinh tử của Phật pháp.

Tôi biết Ngài từ năm 2003. Lúc ấy Ngài đang ở tuổi 90, một cái tuổi mà con người khó đạt được. Đó là Đại lão Hòa Thượng Thích Bảo An - Trưởng Môn Phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Bình Định. Khi Thầy tôi còn tại thế, Ngài hay vào thăm Bình Định để kết chặt tình môn phái Lâm Tế Chúc Thánh, thì Ngài và Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang là một trong những trụ cột của Phật giáo Bình Định thuở bấy giờ.

Năm 2003, với tôi là một năm quan trọng. Vì đây là một dấu mốc chuyển sang giai đoạn khác của công việc Trụ trì Chùa Viên Giác tại Hannover Đức quốc, sau 25 năm đã thể hiện tại trời Tây và tôi đã quyết định trở về ngôi phương trượng. Do vậy, tôi đã cung thỉnh quý Ngài trong môn phái Chúc Thánh từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đà Nẵng đến Bình Định, Nha Trang, Sài Gòn… sang Đức để dự lễ nầy. Nhân cơ hội ấy, tôi đã gặp Ngài qua sự giới thiệu của Thầy Đồng Văn thuở bấy giờ.

Ngài dáng người cao ráo, ăn nói hiền hòa. Thỉnh thoảng Ngài cho gọi đệ tử để sai bảo một vài công việc, nhưng đa phần thời gian còn lại Ngài hay nhớ và nghĩ về Bình Định, trong đó có mấy chú chó con tại chùa Phổ Bảo. Tôi không nghe Ngài nhắc về Thầy nào hay người nào của chùa mà chỉ thấy nhắc đến mấy con chó đang nuôi tại chùa. Quả thật, Ngài có một tình thương thiệt bao la vi diệu, không những đối với con người mà đối với mọi loại chúng sanh nữa.

Sau một tuần lễ Ngài ở tại chùa Viên Giác, Ngài bảo phải đổi vé máy bay để về lại Việt Nam, vì Ngài lúc nào cũng gọi tên của mấy con chó. Người già thường hay cô đơn và con chó hay trung thành với chủ. Do vậy mà con người nói chung, không mấy ai là ghét chó. Vì con chó ở bất cứ hoàn cảnh nào nó vẫn không nỡ bỏ chủ. Có thể chủ bỏ nó vào rừng hoang, chủ đem chó cho người khác; nhưng chó thì luôn vẫn tìm về với chủ.

Năm ấy, tôi đi đón Ngài tại phi trường Hannover và đón nhận hai tấm bảng sơn son thép vàng. Một của Tổ đình Phổ Bảo tại Bình Định và một của Chùa Giác Uyển tại Sài Gòn hiến tặng. Cả hai tấm ấy bây giờ vẫn còn tôn trí trên hai ngạch cửa ra vào tại Tổ Đường chùa Viên Giác. Nghe đâu cả hai tấm này đều do nghệ nhân Bình Định điêu khắc và nội dung bốn chữ của mỗi tấm là do Đức Đệ Tứ Tăng Thống - cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang - cho chữ. Đó là “Chúc Thánh Dư Hương” và “Bổn Cố Chi Vinh”. “Chúc Thánh Dư Hương” có nghĩa là hương thừa của Chúc Thánh. Chúng tôi là hậu duệ, con cháu của Tổ Minh Hải. Do vậy, Ngài cho bốn chữ nầy thật ý nghĩa vô cùng. Dầu cho ở Bình Định, Sài Gòn hay hải ngoại đi nữa, ở đâu chúng ta vẫn hưởng được cái hương thơm dư thừa ấy từ các vị Tổ Đức ngày xưa.

Bốn chữ thứ hai có nghĩa là “cành tốt gốc chắc”.  Nếu cái gốc phát xuất từ Hội An, Quảng Nam cách đây 300 năm lịch sử mà không vững vàng do Tổ Minh Hải khai sơn phá thạch thì ngày nay con cháu của Tổ là những ngọn ngành, không thể  phát triển một cách tốt tươi, mạnh mẽ được. Người xưa thường bảo: “nhìn con biết mẹ” là vậy.  Nay riêng Tông Lâm Tế Chúc Thánh đã vươn xa ra tận hải ngoại. Từ châu Á qua châu Úc, châu Âu, châu Mỹ và châu Phi. Đâu đâu cũng nghe đến pháp danh  đứng đầu với các chữ: Ấn, Chơn, Như, Thị, Đồng; Chúc, Thánh, Thọ, Thiên, Cửu…

Nếu ai đó bảo rằng tình của người Tăng sĩ là tình Linh Sơn cốt nhục, thì đạo tình của những người cùng môn phái là tình của Tông môn pháp phái cũng chẳng sai tí nào. Vì lẽ Phật thì sống cách xa chúng ta quá nhiều, chỉ có những vị Tổ sáng lập ra môn phái để truyền thừa và nối dòng pháp của Đức Thế Tôn; so ra Tổ gần hơn Phật và vị Thầy thế độ cho ta lại gần hơn Tổ. Nếu không có những bậc Long Tượng của Thiền môn, hiện chơn tướng của những bậc xuất trần thượng sĩ thì không có ai dẫn ta vào nẻo Đạo. Do vậy mà theo giáo lý Phật giáo Kim Cang Thừa, người đệ tử xem vị Thầy Bổn Sư của mình còn gần gũi và quan trọng hơn cả Tổ và cả Phật nữa.

Ngày nay, cây, lá, cành và hoa quả đã đâm chồi nẩy lộc tại ngoại quốc. Con cháu của Tổ đã có mặt khắp nơi trên hoàn vũ nầy. Mỗi năm vào ngày mồng 7 tháng 11, dầu ở trong hoàn cảnh nào, Chư Tôn Đức trong Môn phái Chúc Thánh tại Úc châu, Mỹ châu cũng làm lễ kỵ Tổ tại một chùa nào đó trong vùng để tưởng nhớ về công ơn của Tổ đã truyền thừa.

Tại chùa Chúc Thánh ở Hội An, Quảng Nam mỗi năm đến ngày mồng 7 tháng 11 âm lịch cả hàng ngàn, hàng vạn Tăng Ni, Phật tử khắp nơi từ các tỉnh thành đến nơi thôn dã đều vân tập về đây để lễ Tổ. Lễ Tổ đã trở thành đại chúng hóa và Tổ là một nguồn mạch thiêng liêng để cho hàng hậu bối dìu dắt nhau đi vào lãnh vực của tâm linh cũng như sự truyền thừa.

Tổ từ Trung Hoa sang Việt Nam đã chẳng mang theo một vật gì ngoài ba y và một bình bát từ năm 1695. Đến năm 1697, ngôi am tranh Chúc Thánh đã hình thành. Nơi thảo am này, Tổ đã tọa thiền, dạy công án và cuốc đất, trồng khoai. Cuối đời Tổ xuất ra một dòng kệ, mà mãi cho đến ngày nay vẫn truyền chưa xong nửa bài kệ ấy.

Tổ đi, không mang chùa viện và đệ tử theo, mà Tổ để lại tất cả cho người Việt Nam, qua thế hệ thứ 2 là ngài Thiệt Dinh, khai sơn chùa Phước Lâm, ngài Pháp Hóa ở Quảng Ngãi, ngài Pháp Chuyên, ngài Toàn Nhật tại Phú Yên… Từ đó, chúng ta cũng có thể định vị cho chỗ đứng của Phật Giáo Việt Nam ngày nay tại hải ngoại nầy.

Trước và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, người Việt Nam đã bỏ nước ra đi vì nhiều lý do khác nhau; trong đó có lý do tự do tôn giáo đứng hàng đầu, mà thuở bấy giờ, tại quê hương Việt Nam không có. Do vậy, trên 400 ngôi chùa Việt đã được xây dựng tại các xứ Âu, Mỹ, Úc nầy. Rồi một mai đây, thế hệ thứ nhất, thứ nhì của người tỵ nạn sẽ nằm xuống, thì thế hệ thứ ba, thứ tư phải tiếp tục truyền thừa; nhưng mong rằng Phật giáo Việt Nam tại Đức sẽ hòa quyện và hội nhập vào văn hóa Đức để trở thành Phật giáo của người Đức. Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, Úc châu, Canada…cũng vậy. Nó phải là của người địa phương; chứ không phải mang nặng bản chất Việt Nam suốt thời gian sự truyền thừa được. Mặc dầu khởi thủy từ Việt Nam; nhưng Việt Nam Phật Giáo ấy phải hội nhập vào văn hóa sở tại với các nước Phật Giáo Âu, Mỹ nầy mới là điều đáng tán dương và cổ vũ.

Dẫu Tổ ngày nay không còn nữa và Môn phái Chúc Thánh cũng không còn là của người Trung Hoa nữa, mà là của Phật giáo Việt Nam. Do vậy, chúng ta không ngại ngần gì biến Phật Giáo và Môn phái nầy trở thành của người dân sở tại. Nếu không được như vậy thì Chư Tổ có lẽ các Ngài chẳng hoan hỷ chút nào. Vì giáo lý và Tông phong ấy phải khế hợp cả khế cơ và khế lý, thì môn phái ấy mới tồn tại qua thời gian cùng năm tháng được.

Vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 của năm 2011 nầy, tại Tu viện Viên Đức ở miền Nam nước Đức, tôi được thầy Như Tịnh từ Việt Nam cho hay Sư ông Phổ Bảo – Đại lão Hòa thượng Thích Bảo An đã viên tịch và thọ 98 tuổi. Tôi không ngỡ ngàng, vì biết rằng một ngày nào đó bậc chơn nhân nầy hiện rõ chơn tướng của bậc đại trượng phu cũng sẽ ra đi. Do vậy, tôi đốt nhang cầu nguyện và báo tin nầy cho Hòa Thượng Thích Như Huệ, Trưởng môn phái Lâm Tế Chúc Thánh hải ngoại hay; lúc ấy Ngài đang ở tại Hamburg, thăm Ni viện Bảo Quang của Sư Bà Thích Nữ Diệu Tâm và Ngài đã dạy tôi, nhờ Thầy Như Tịnh lo vấn đề đi phúng điếu cũng như cúng dường. Tất cả đều như pháp.

Nay thì Ngài đã ra đi, tôi chẳng biết những chú chó nơi Tổ đình Phổ Bảo có còn nhớ đến Ngài chăng? Nhưng chắc rằng ở nơi cảnh giới giải thoát kia, bậc chơn nhơn có lẽ sẽ không quên hình ảnh của những con vật, mà ngày xưa nó đã nhiều lần nằm sát bên chân Ngài để sống trong tình thương yêu của chủ, vốn là chân tướng của một bậc đại trượng phu của cửa Thiền.

Nay thầy Giác Hạnh tại Hoa Kỳ muốn làm kỷ yếu để tưởng niệm về cố Đại lão Hòa Thượng Thích Bảo An, tôi chỉ biết có bấy nhiêu việc về Ngài; nên chỉ xin viết những gì như mình đã biết về một con người luôn sống cho Đạo Pháp, không phân biệt ranh giới giữa người và vật trong suốt 98 năm đồng chơn thanh tịnh ấy.

Kính nguyện Giác linh Ngài thùy từ chứng giám.

Viết xong ngày 20/4/2011 tại chùa Phật Ân, Hoa Kỳ - Ngày tuyết đổ cuối mùa

THÍCH NHƯ ĐIỂN

 

 

Trở về Trang TƯỞNG NIỆM ĐẠI LÃO HOÀ THƯỢNG THÍCH BẢO AN

 

 

 
 
simple stats
lượt đọc kể từ Mùa Phật Đản 2552 - 2008