|
Đẳng Cấp Trong Các Tôn Giáo Ở Ấn Độ
Thích Nguyên Hiệp

Hệ
thống
đẳng cấp đã tồn tại ở Ấn hàng nghìn năm trước và
vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng sâu sắc vào nhiều mặt
đời sống của người dân Ấn hiện nay. Hệ thống
đẳng cấp, như thường được biết, có nguồn gốc từ
Bà-la-môn giáo, hay nói khác đi là một sản phẩm
của Bà-la-môn giáo. Nhưng về sau hệ thống đẳng
cấp đã vượt ra khỏi Bà-la-môn giáo và xâm
nhập vào những tôn giáo khác nhau, bao gồm cả
những tôn giáo có nguồn gốc bên ngoài Ấn Độ. Bài
viết này tìm hiểu một vài khía cạnh về hệ thống
đẳng cấp trong các tôn giáo ở Ấn Độ.
1. Bà-la-môn giáo
và hệ thống đẳng cấp
Đẳng cấp ở Ấn đã
trải qua nhiều thay đổi trước khi trở thành có
hệ thống như hiện nay. Về mặt văn bản, đẳng cấp
được đề cập đầu tiên trong Rig-Veda, bản kinh cổ
nhất của Bà-la-môn giáo. Theo Rig-Veda thì bốn
đẳng cấp được sinh ra từ một nguồn, từ trên cùng
cơ thể của Con người sơ thuỷ (Puruṣa):
Bà-la-môn được sinh ra từ miệng; Sát-đế-lợi sinh
ra từ tay; Phệ-xá sinh ra từ bắp vế; và
Thủ-đà-la sinh ra từ chân (Rig-Veda, 10.90).[1]
Từ khởi đầu, sự
phân chia cao thấp giữa các đẳng cấp được dựa
theo vị trí trên cơ thể của Con người sơ thuỷ mà
từ đó các đẳng cấp được sinh ra. Đẳng cấp sinh
ra từ miệng, do ở gần đầu nhất, nên được xếp cao
nhất; và ngược lại đẳng cấp sinh ra từ chân thì
được coi là thấp nhất. Như vậy theo Rig-Veda, cả
bốn đẳng cấp đều xuất phát từ một nguồn và có
những liên hệ với thần linh.
Qua đến thời Upanishad,
hệ thống đẳng cấp được lập lại. Nhưng ở thời kỳ
này có sự phân tranh ngôi thứ giữa hai đẳng cấp
đầu là Bà-la-môn và Sát-đế lợi. Một đoạn trong
Upanishad, lúc đầu cho rằng Sát-đế-lợi là đẳng
cấp cao nhất vì được sinh ra trước tiên, và tại
tế lễ Rajasuya[2] các
Bà-la-môn phải ngồi bên dưới các Sát-đế-lợi.
Nhưng ngay sau đó Upaniṣad
xác định lại: “Chính Bà-la-môn là nguồn gốc của
Sát-đế-lợi. Do đó cho dù vua có quyền uy tối cao,
vị ấy cuối cùng phụ thuộc vào Bà-la-môn vì là
nguồn gốc của mình. Do đó bất cứ người nào làm
tổn hại Bà-la-môn là đang tấn công chính nguồn
gốc của người ấy. Vị ấy chịu sự tổn hại tương
xứng khi vị ấy làm hại người tốt hơn.” (Bṛihad-Āraṇyaka
Upanishad 1.4.10).[3]
Trong Upanishad,
Bà-la-môn thậm chí được đồng nhất với Phạm thiên,
và như vậy Bà-la-môn cũng được xem là nguồn gốc
mà từ đó tất cả các đẳng cấp khác đã sinh ra. Do
đó các đẳng cấp khác không được xâm phạm
Bà-la-môn, vì xâm phạm Bà-la-môn là xâm phạm
nguồn gốc của mình. Sát hại một Bà-la-môn bị xem
là tội lỗi lớn nhất. Các đẳng cấp khác, đặc biệt
là Sát-đế-lợi, phải có nhiệm vụ bảo vệ đẳng cấp
Bà-la-môn.[4]
Trong Upanishad,
hai đẳng cấp Bà-la-môn và Sát-đế-lợi được xem là
hiện thân của hai vị thần Mitra và Varanu; và
hai đẳng cấp này có những liên hệ mật thiết với
nhau, nương tựa vào nhau và hỗ trợ lẫn nhau.
Chính việc đồng nhất với thần linh, hai đẳng cấp
đầu đã tự “hợp pháp” vị trí của mình và phân
định vai trò nắm quyền điều hành xã hội.
Bà-la-môn lo công việc tâm linh, Sát-đệ-lợi nắm
lấy quyền lực thế tục.
Điều này không
chỉ ở trong sách vỡ mà còn được áp dụng vào
trong đời sống thực tế. Ở Ấn Độ cổ đại, một vị
vua chỉ được coi là hợp pháp khi vị này đã trải
qua một buổi lễ phong vương có sự cúng tế của
các Bà-la-môn. Sau đó trong quá trình trị vì của
mình, nhà vua thường có một Bà-la-môn thân cận,
và vị Bà-la-môn này sẽ cố vấn cho vua nhiều vấn
đề, từ tâm linh cho đến những chính sách cai trị.
Nhưng các Bà-la-môn cũng cần đến nhà vua, nương
tựa vào vua để nhận lấy những lợi ích kinh tế.
Và khi một Bà-la-môn được một vị vua ủng hộ thì
vị này được xem có địa vị cao hơn những
Bà-la-môn không được vua ủng hộ; và một vị vua
được Bà-la-môn ủng hộ thì được xem có quyền lực
hơn những vị vua không được Bà-la-môn ủng hộ.[5] Điều
này có nghĩa rằng, một Bà-la-môn làm việc cho
vua thì có vị trí cao hơn các Bà-la-môn không
làm việc cho vua; và những vị vua có Bà-la-môn
cố vấn thì được xem là có quyền lực hơn những vị
vua không có Bà-la-môn cố vấn.
Qua đến thời Bhagavadgītā,
lúc này Bà-la-môn dường như yếu thế hơn so với
Sát-đế-lợi. Vì vậy thánh điển này một lần nữa
xác định lại hệ thống đẳng cấp và phân chia các
nhóm người dựa trên các đặc tính(guṇa).
Nếu như sự phân chia đẳng cấp trong Rig-Veda
liên quan đến màu da và vị trí trên cơ thể của
Con người sơ thuỷ, thì sự phân chia đẳng cấp
trong Bhagavadgītā được dựa trên đặc tính con
người. Bhagavadgītā phân con người vào trong ba
đặc tính chính: sáng suốt(sattva), linh động (rajas) và
tối tăm (tamas). Đặc tính thứ nhất, sáng suốt,
được xem là ưu trội ở nơi các Bà-la-môn. Đặc
tính thứ hai, linh động, thuộc về hai đẳng cấp
Sát-đế-lợi và Phệ-xá. Và đặc tính cuối cùng dành
cho những người nô lệ Thủ-đà-là. Nhưng khái niệm
đặc tính (guṇa)này
lại có liên hệ với học thuyết nghiệp. Theo
Bà-la-môn giáo, người ta mang những đặc tính
khác nhau, theo đó có cộng việc và vị trí xã hội
khác nhau, bởi do đã tạo nên những nghiệp nhân
khác nhau. Điều này dường như nhằm giảm bớt sự
“bất công” của thần linh trong việc tạo nên con
người; và cũng nhằm khuyên bảo con người hãy an
phận với đẳng cấp đã có, thực hiện đúng các bổn
phận (dharma) của mình. Nếu ai muốn thay đổi
đẳng cấp thì hãy thay đổi nghiệp, thay đổi
nghiệp bằng cách thực hiện đúng những bổn phận
dành cho mình, và như vậy họ sẽ có một đời sống
tốt trong đời sống kế tiếp.
Có lẽ Luật Manu
là cuốn sách giảng giải về hệ thống đẳng cấp chi
tiết hơn cả. Mở đầu nó đã giải thích về nguồn
gốc của các đẳng cấp; và như các thánh điển
trước đó, nó cũng cho rằng hệ thống đẳng cấp là
do thần linh định ra. Luật Manu đi xa hơn còn
giải thích về các nhiệm vụ, bổn phận và công
việc của mỗi đẳng cấp; cũng như quy định những
loại thức ăn, áo quần và nơi ở mà mỗi đẳng cấp
cần phải theo. Nó cũng đặt ra những hình phạt
dành cho mỗi đẳng cấp nếu có sự vi phạm các luật
định.
Theo Luật Manu,
công việc và bổn phận của đẳng cấp Bà-la-môn là
nghiên cứu và giảng dạy các Veda, thực hiện bố
thí và tế lễ. Bổn phận của đẳng cấp Sát-đế-lợi
là bảo vệ dân chúng, ngăn chặn kẻ ác, trừng phạt
kẻ cướp và tham gia chiến đấu. Sát-đế-lợi vẫn có
thể thực hiện tế lễ, nhưng không được thực hiện
bổn phận như một tu sĩ, tức không được thực hiện
tế lễ cho người khác; được đọc Veda nhưng không
được giảng dạy. Nhiệm vụ của những người Phệ-xá
là tạo ra tài sản, chăn nuôi và bảo vệ súc vật.
Họ cũng được thực hiện tế lễ và đọc tụng Veda,
nhưng không được giảng dạy cho người khác. Bổn
phận của đẳng cấp Thủ-đà-la là làm nộ lệ cho ba
đẳng cấp trước. Họ không được sở hữu tài sản,
nếu sở hữu sẽ phạm trọng tội.
Luật Manu còn đặt
ra nhiều hình phạt nghiêm ngặt dành cho mỗi đẳng
cấp. Tuy nhiên sự thiên vị lại nghiêng về đẳng
cấp Bà-la-môn; và những hình phạt được đặt ra
cũng chỉ nhằm cũng cố quyền lực và đem lại lợi
ích cho đẳng cấp này. Điều này là hiển nhiên,
bởi vì Luật Manu thực sự chỉ là một sản phẩm của
đẳng cấp Bà-la-môn, và nó được hình thành cũng
vì đặc quyền đặc lợi của đẳng cấp này.
Có những quan
điểm khác nhau về nguồn gốc hệ thống đẳng cấp
của Bà-la-môn giáo. Nếu xem xét những gì được mô
tả trong các thánh điển của tôn giáo này, ta
thấy có hai vấn đề: 1. Đẳng cấp là một vấn đề
“siêu hình”, vì nó được cho là do thần linh tạo
ra, hay nói cách khác nó có nguồn gốc từ thần
linh, từ “Con người sơ thuỷ.” 2. Đẳng cấp được
phân chia dựa trên đặc điểm sinh học, tức dựa
trên sắc da và tính cách của từng nhóm người.
Dựa trên sắc da, nhóm người có da trắng là các
Bà-la-môn; nhóm người có da đỏ là Sát-đế-lợi;
nhóm người có da vàng là Phệ-xá; và nhóm người
có da đen thuộc về Thủ-đà-la. Về đặc tính, các
Bà-la-môn thường được cho có các đặc điểm như
thông minh, chân thật, thanh sạch và những đặc
tính tốt khác. Sát-đế-lợi và Phệ-xá thì được cho
có các đặc tính như dũng cảm, kiêu hãnh, hăng
hái… Đẳng cấp cuối cùng, Thủ-đà-la, bị gán cho
các đặc tính xấu như ngu muội, dơ bẩn và thiếu
tính sáng tạo...
Về phương diện
lịch sử xã hội, hệ thống đẳng cấp được cho là
sản phẩm của những người Arya khi những người
này xâm chiếm Ấn Độ. Trước khi những người Arya
đến, có nhiều tộc người khác nhau sinh sống tại
Ấn, trong đó tộc người Dravidia chiếm đa số. Sau
khi chinh phục Ấn Độ, trong quá trình phân bổ
lao động, những người Arya đã phân chia cộng
đồng của họ thành ba nhóm là Sát-đế-lợi,
Bà-la-môn và Phệ-xá để đảm trách những công việc
khác nhau. Về sau những người Arya đã lập nên
một đẳng cấp thứ tư, đó là Thủ-đà-la, những cư
dân bản địa được người Arya chấp nhận, hoặc
những người pha trộn huyết thống giữa Arya và
người bản địa. Ngoài ra còn có một đẳng cấp thứ
năm là Panchama, những người tiện dân, là những
cư dân bản địa mà người Arya không thừa nhận.[6]
2. Đẳng Cấp Trong
Kỳ-na giáo (Jainism)
Từ khởi đầu,
giống như Phật giáo, Kỳ-na giáo phủ nhận thẩm
quyền của các Veda và cũng phủ nhận luôn hệ
thống đẳng cấp của Bà-la-môn giáo mà nó được
quan niệm là do thần linh định ra. Kỳ-na giáo
cũng tin rằng chính hành vi, chứ không phải dòng
dõi, tạo nên vị trí xã hội của một con người.
Tức rằng người ta trở thành Bà-la-môn hay
Thủ-đà-la không phải từ khi mới sinh ra mà do
những hành vi của họ tạo nên. Nhưng về sau Kỳ-na
giáo đã chấp nhận hệ thống đẳng cấp của
Bà-la-môn giáo và đã áp dụng hệ thống này vào
trong tôn giáo của mình. Tuy nhiên có sự khác
nhau trong niềm tin về nguồn gốc của hệ thống
đẳng cấp giữa hai tôn giáo này. Trong khi
Bà-la-môn quan niệm hệ thống đẳng cấp có nguồn
gốc từ thần linh thì Kỳ-na giáo không chấp nhận
điều này. Sự phân chia đẳng cấp trong Kỳ-na giáo
được dựa trên công việc hơn là dòng dõi. Nhưng
bởi vì nghề nghiệp thời trước thường mang tính
truyền thừa theo gia đình và dòng tộc, theo đó
đẳng cấp cũng trở thành truyền thừa. Và thực tế
là không có, và không thể có, sự chuyển đổi đẳng
cấp ở trong Kỳ-na giáo. Một Bà-la-môn thì hẳn
nhiên không muốn đổi thành Thủ-đà-la; và họ cũng
không dễ gì chấp nhận một người tiện dân đứng
ngang hàng với mình trong cùng một đẳng cấp.
Vào lúc đầu, đẳng
cấp Bà-la-môn không có mặt trong Kỳ-na giáo, tức
Kỳ-na chỉ có ba đẳng cấp sau. Về sau đẳng cấp
Bà-la-môn mới được đưa thêm vào. Có lẽ do khi có
những Bà-la-môn cải đạo sang tôn giáo này. Ở
miền nam Ấn Độ, những người này được gọi là
“Bà-la-môn Kỳ-na.”[7]
Kỳ-na giáo gọi
người của ba đẳng cấp đầu là “người sinh hai lần”,
bởi vì những người này có một lần sinh thứ hai
về mặt tâm linh bằng một nghi lễ tôn giáo đặc
biệt; và sau khi trải qua lần “sinh thứ hai” này,
người ta sẽ trở nên “thiêng” hơn do đã có những
nối kết với thần linh. Điều này giống với
Bà-la-môn giáo. Nhưng trong Bà-la-môn giáo, một
người sau khi trải qua lần sinh thứ hai này thì
không những đã có sự nối kết với thần linh mà
còn chính thức trở thành thành viên của cộng
đồng Arya.[8]
Cũng như
Bà-la-môn giáo, Thủ-đà-la là đẳng cấp thấp nhất
trong Kỳ-na-giáo và là đẳng cấp chịu nhiều thiệt
thòi trong đời sống xã hội cũng như tôn giáo. Họ
không có “lần sinh thứ hai” vì không có nguồn
gốc Arya. Về sau hệ thống đẳng cấp của Kỳ-na
giáo được cơ cấu chặt chẽ và nghiêm ngặt hơn.
Mỗi đẳng cấp còn phân chia ra vô số đẳng cấp nhỏ
khác, điều cũng giống với Bà-la-môn giáo. Họ đặt
ra những luật lệ liên quan đến việc kết hôn,
thức ăn, nơi ở và cả việc thực hiện các nghi
thức tôn giáo.
3. Đẳng cấp trong
Do Thái, Kitô và Hồi giáo
Do thái, Kitô và
Hồi giáo ở Ấn đều chấp nhận hệ thống đẳng cấp,
nhưng có những khác biệt về danh xưng. Các cộng
đồng của những tôn giáo này có sự phân chia về
vị trí cao thấp, và có những quy định nghiêm
ngặt cho từng đẳng cấp trong cùng một tôn giáo.
Do thái ở Ấn chia
làm ba cộng đồng chính tương ứng với ba đẳng cấp:
những người Do thái Baghdadi, Do thái Bene và Do
thái Cochini.Trong ba cộng đồng này, những người
Baghdadi được xem là có ưu thế hơn cả; còn những
người Do thái Bene bị xem là thấp kém nhất. Sự
phân chia cao thấp giữa các cộng đồng này được
giải thích là do chịu ảnh hưởng hệ thống đẳng
cấp của Ấn giáo, nhưng cũng được cho là do những
luật lệ tôn giáo của mỗi cộng đồng. Sự phân chia
giữa các cộng đồng Do thái khá sâu sắc. Ví dụ,
như những người Do thái Baghdadi không được kết
hôn với những người Do thái Bene, không được ăn
thức ăn do những người Do thái Bene nấu… Điều
này không khác với Bà-la-môn giáo, quan niệm
rằng việc một đẳng cấp cao kết hôn với đẳng cấp
thấp hay ăn thức ăn do đẳng cấp thấp nấu, sẽ
khiến cho đẳng cấp cao bị uế nhiễm.
Kitô giáo cũng
không thoát khỏi hệ thống đẳng cấp. Sự phân chia
đẳng cấp trong Kitô giáo được cho là bị ảnh
hưởng bởi Ấn giáo. Trước khi trở thành tín đồ
của Kitô giáo những người Ấn đã có đẳng cấp
riêng của họ; và họ tiếp tục giữ lấy đẳng cấp
của mình sau khi cải sang tôn giáo mới. Ở Goa,
những người thuộc đẳng cấp Bà-la-môn và
Sát-đế-lợi, khi cải sang Kitô giáo đã trở thành
những người Bamonn và Chardo, là hai đẳng cấp
cao trong sự phân tầng của tôn giáo này.
Những người Ấn
thuộc đẳng cấp thấp hay tầng lớp tiện dân, khi
cải đạo sang Kitô hay Hồi giáo, với hy vọng rằng
sẽ xoá đi vị trí đẳng cấp thấp hèn của họ, nhưng
điều này trong thực tế đã không xảy ra, hoặc rất
ít xảy ra. Những người tiện dân vẫn là tiện dân.
Họ vẫn tiếp tục chịu sự thiệt thòi trong cộng
đồng xã hội nói chung, và bị phân biệt đối xử
ngay bên trong cộng đồng tôn giáo của họ nói
riêng. Nhiều nơi ở Ấn, những người Kitô đẳng cấp
thấp không được xin lễ cùng một nhà thờ với
người có đẳng cấp cao, và thậm chí không được đi
chung đường với những người có đẳng cấp cao.
Điều này xem ra không khác mấy với Bà-la-môn
giáo mấy ngàn năm trước. Và sự xung đột bạo lực
giữa những người Kitô có đẳng cấp cao và những
người Kitô tiện dân không phải hiếm xảy ra ở Ấn.
Hệ thống đẳng cấp
cũng xâm nhập vào trong Hồi giáo. Những người Ấn
khi cải đạo sang Hồi giáo phần lớn đều giữ
nguyên đẳng cấp của mình. Về cơ bản, người Hồi ở
Ấn được phân chia thành hai đẳng cấp chính:
những người đẳng cấp cao, được gọi là Sharaf (hoặc
Ashraf) Jat, là những người Hồi giáo đến từ nước
ngoài và những người Ấn có đẳng cấp cao cải đạo
sang Hồi giáo. Đẳng cấp thấp, được gọi là Ajlaf
Jat, gồm những người Ấn đẳng cấp thấp cải đạo
sang Hồi giáo. Ở một vài khu vực còn có thêm
đẳng cấp thứ ba, được gọi là Arza Jat, là đẳng
cấp thấp nhất.
Sự phân biệt đẳng
cấp trong Hồi giáo rất sâu sắc. Giữa các đẳng
cấp thường không có những mối liên hệ xã hội với
nhau, cho dù họ cùng một tôn giáo. Việc kết hôn
với những người khác đẳng cấp là tuyệt đối bị
ngăn cấm, bị xem như một tội lỗi. Và những người
thuộc giai tầng tiện dân thường bị đối xử vô
cùng tồi tệ. Sự phân chia đẳng cấp trong Hồi
giáo ở Ấn, theo B.R. Ambedkar, còn tồi tệ hơn cả
trong Ấn giáo.
Vào thời thuộc
địa, người Anh đã có những nỗ lực nhằm hạn chế
sự phân biệt đối xử với những người đẳng cấp
thấp và tầng lớp tiện dân. Vào những năm thập
niên 30-40 thế kỷ trước, chính quyền Anh đã ban
luật để bảo vệ những người này. Thế nhưng chính
những người Anh ở Ấn, họ cũng từng xem mình là
những người thuộc đẳng cấp Bà-la-môn. Năm 1947,
sau khi Ấn Độ độc lập, chính phủ Ấn đã ban luật
bảo vệ “những đẳng cấp chịu thiệt thòi.” Nhưng
điều này có lẽ chỉ có hiệu lực trên mặt giấy tờ
và trong lĩnh vực chính trị (Quốc hội Ấn có dành
“ghế” cho những người Dalit), còn trong xã hội
thực tế, đời sống của những người tiện dân nhìn
chung không có thay đổi nhiều.
Nói chung
giai cấp thấp và tầng lớp tiện dân, cho dù thuộc
tôn giáo nào và cho dù vào thời nào, đều bị phân
biệt đối xử. Đầu thế kỷ trước, những người thuộc
giai cấp thấp ở Nam Ấn “mặc dù có tài sản, lại
không có quyền xây nhà hai tầng, không được
mang trang sức bằng vàng, và không được che dù.”[9]
4. Phật giáo và
vấn đề đẳng cấp
Từ ban đầu Phật
giáo không chấp nhận hệ thống đẳng cấp, và nó
không có sự thay đổi hay thoả hiệp với vấn đề
này trong quá trình phát triển về sau. Theo Phật
giáo, không có đẳng cấp trong dòng màu cùng đỏ
và nước mắt cùng mặn. Đức Phật cũng không chấp
nhận việc phân chia con người dựa trên các đặc
tính, như việc cho rằng các Bà-la-môn là thanh
tịnh, còn các Thủ-đà-la là ngu tối và dơ bẩn.
Theo Phật giáo, đẳng cấp chỉ là một vấn đề quy
ước của con người. Kinh Phật Tự Thuyết (Udāna)
nói rằng: “Ví
như, này các Tỷ-kheo, phàm có các con sông lớn
nào, ví như sông Hằng, sông Yamunā,
sôngAciracati, sông Sarabhū, sông Mahi, các con
sông ấy khi chảy đến biển, liền bỏ tên họ trước,
trở thành biển lớn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
có bốn giai cấp này: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn,
Phệ-xá, Thủ-đà-la, sau khi từ bỏ gia đình, sống
không gia đình, xuất gia trong Pháp và Luật được
Như Lai tuyên bố sau này, họ từ bỏ tên và họ của
họ trước đó, và trở thành những Sa môn Thích tử.”
(Bản dịch của HT Minh Châu).
Như vậy, một
người khi tham gia vào cộng đồng Phật giáo thì
tất cả những gì liên quan đến đẳng cấp đều bị
loại trừ. Tất cả đều bình đẳng trong đời sống
tôn giáo, và tất cả đều có khả năng đạt lấy giác
ngộ bất kể màu da hay nguồn gốc gia đình của họ
là gì.
Nhưng bởi vì tính
triệt để của Phật giáo trong vấn đề đẳng cấp đã
khiến cho nó không thể tồn tại lâu dài được ở
nơi mảnh đất đã khai sinh ra nó. Cố thủ tướng Ấn,
J. Nehru đã nói rằng “Phật giáo, không thích ứng
nó với đẳng cấp, và độc lập hơn trong tư tưởng
và quan điểm của mình, cuối cùng đã biến mất
khỏi Ấn Độ, mặc dù nó đã ảnh hưởng sâu sắc vào
Ấn Độ và Ấn giáo.”[10]
Nhiều người
có chung quan điểm với cố thủ tướng J. Nehru,
trong đó có cả những nhà Phật học và những tín
đồ Kỳ-na giáo. Người ta cho rằng việc triệt để
chống lại đẳng cấp của Phật giáo là một trong
các nguyên nhân khiến Phật giáo không trụ được
lâu dài ở Ấn. Nhưng tại sao việc không chấp nhận
đẳng cấp lại đưa đến sự suy tàn của một tôn
giáo? Vấn đề này, nếu có dịp, chúng tôi sẽ
trở lại tìm hiểu trong một bài viết khác./.
Thích Nguyên Hiệp
(theo Hoa Linh Thoại)
[1] Textual
Sources for the Studies of Hinduism, Wendy
Doniger O’Flaherty dịch, Manchester: Manchester
University Press, 1988, tr. 28. Trong Rig-Veda,
hệ thống đẳng cấp bốn bậc này chỉ được đề cập
một lần duy nhất; và đoạn kinh văn này được cho
là được bổ sung về sau.
[2] Đây
là tế lễ do những vị vua Ấn Độ thời cỗ đại thực
hiện, thường sau khi dành thắng lợi từ một cuộc
chiến. Buổi lễ này tương tự một buổi lễ phong
vương, qua đó vị vua tổ chức tế lễ này khẳng
định vị trí đế vương của mình với dân chúng và
với các vị vua lân bang. Sau buổi lễ, vị vua này
trở nên “hợp pháp” hơn, bởi được xem đã có sự hộ
trì của thần linh.
[3] The
Thirteen Principal Upanishads, R. E. Hume dịch,
Oxford: Oxford University Press, 1921, tr. 38.
[4] A.
B. Keith, The Religion and Philosophy of Veda
and Upanishads, London: Oxford University Press,
1925, tr. 585.
[5] V.
Kane, History of Dharmaśāstra, Vol. II, Pune:
Bhandarkar Oriental Research Institute, 1941,
tr. 40.
[6] S.
Radhakrishnan, Indian Philosophy, Vol. I, Oxford
University Press, 2008, các trang 111-113.
[7] Vilas
A. Sangave, Jaina Community: A Social Survey, Bombay:Popular
Prakashan Private, 1980, tr. 100.
[8] A.L. Basham, The
Wonder That Was India: A Survey of the Culture
of the Indian Subcontinent Before the Coming of
the Muslims, London: Sidgwick and Jackson, 1954,
tr. 138.
[9] Jagjit
Singh, Perspectives on Sikh Studies (the
research on caste and caste system), Delhi: Guru
Nanak Foundation, 1985, tr. 15.
[10] Jawaharlal
Nehru, The Discovery of India, New Delhi:Penguin
Books, 2004, tr. 122.


|